Thứ Bảy 18/5/2024 -- 11/4/2024 (Âm lịch) -- 2568 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Thoát Ra

THAY LỜI TỰA

“Có những lúc, ta vội vàng,

Bỏ quên những thảm cỏ xanh bên đường.”

Cuộc sống, mưu sinh, công việc, lúc nào cũng phải tranh thủ, nhanh vội, vô tình đẩy con người vào guồng máy cuống cuồng, có khi bị áp lực, bỏ quên chân trời bát ngát thênh thang đang sẵn đó.

Chú tâm vào một tiểu cảnh, sẽ quên những cảnh khác chung quanh. Chuyên tâm vào một công việc, thường thì các việc còn lại bị rơi rớt. Quan trọng một vấn đề, sẽ dễ chủ quan và sanh ra các sai lầm khác. Dồn tâm xây dựng một mệnh đề ngỡ như đã đạt đến hoàn hảo, nhưng khi thanh thản sẽ nhận ra những chỗ còn thiếu sót, nhầm lẫn. Nhà Bác học thường phát minh những sáng kiến lớn khi buông thư. Trong khoảng trả lại tự do, thư thả, thơ thới, con người bất chợt có những khoảnh khắc vàng, thời điểm lóe sáng, phát minh không ngờ. Tất cả giá trị ấy chỉ xuất hiện khi chúng ta biết thoát ra. Các Thiền sư ngộ tâm, tâm tánh tự hoát toang, vượt thoát tất cả; đây là đạt đến chân lý thoát ra tuyệt đối.

Bản tâm ấy vốn tự không tướng, nhưng sáng biết, không mê lầm. Lúc này, các Thiền sư hay vào đời làm nhiều việc lợi ích nhân sinh mà tâm tự vượt thoát, trần lao không chạm đến được. Cứ thế, ra vào tự tại mà không thấy có tướng ra vào, sẽ đạt đến rốt ráo viên mãn của chân lý thoát ra.

Tập sách nhỏ này là những gợi ý như vậy. Xin chân thành gửi đến quý vị hữu duyên.

 

Mùa xuân năm Giáp Thìn, 2024

Kính ghi:

Thích Tâm Hạnh.

 

Xem toàn bộ sách: 

Tải về 

Xem tiếp...

Để Được Tiến Đạo

THAY LỜI TỰA

Chữ đạo, có một nghĩa là con đường tu tập. Tột cùng con đường này là thể của đại đạo rốt ráo viên mãn. Thênh thang, trùm khắp, không nơi nào thiếu vắng; rạng ngời, biết suốt, tự tại, tiêu sái sẵn vậy nơi mỗi người. Bậc lanh lợi thì ngay đây nhận thẳng. Còn lại, phần nhiều phải có quá trình tu tập. Trải qua thời gian quyết chí hạ thủ công phu, được thuần thục, đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, thể đạo tự bừng sáng.

“Để được tiến đạo”, tập sách nhỏ này là một vài gợi ý cho những ai hữu duyên đang trên lộ trình hướng tiến Phật đạo. Có thể chưa đầy đủ, nhưng nếu khéo dụng công thì có khi không cần dông dài. Hy vọng những điều ít ỏi này có thể góp thêm phần nào tư lương cho lữ khách tha hương đang quay gót trở về quê nhà muôn thuở.

 

Ngày xuân năm Quý Mão – PL. 2567 – DL.2023.

Kính ghi

Thích Tâm Hạnh.

Xem toàn bộ sách:

Tải về

 


NĂM PHÁP TIẾN ĐẠO

Thể đạo vốn sẵn đó nơi mỗi chúng ta. Nói tiến đạo, tức là tỏ ngộ thể đạo ấy, là bản tâm chân thật chính mình. Đã sẵn đủ nơi mỗi người rồi thì lẽ ra ngay đây nhận thẳng; chỉ cần ngộ thẳng tâm này, liền là tiến đạo. Nhưng do nghiệp thức mênh mang, vọng tập ắp đầy vì thế bị chướng ngăn, che đậy; khiến cho con đường tiến đạo của chúng ta còn tùy thuộc vào một số yếu tố khác nữa, chưa thể thẳng tiến. Năm pháp dưới đây là năm nhân duyên trong những yếu tố nhân duyên như thế, giúp cho chúng ta tu hành suôn sẻ, tiến đạo.

1.  TÚC DUYÊN. Nhân duyên tu hành nhiều đời trước.

Đức Phật dạy: “Nghiệp là thai tạng, chúng sanh thừa tự nghiệp”. Không kể đến các bậc Thánh nhân đắc đạo vì nguyện lực vào đời. Còn lại, tất cả chúng ta được sanh ra nơi đời là sự kế thừa và kết tinh của những hành động, việc làm quá khứ, gọi chung là nghiệp. Do vậy, những suy nghĩ, hành động, việc làm và kết quả của hiện tại, ngoài những nỗ lực của bản thân, nó còn có sự chi phối, tác động bởi những tác tạo của mỗi người từ những kiếp về trước. Việc tu hành, mà cụ thể là việc đưa đến kết quả trong hạ thủ công phu tu tập cũng có một phần ảnh hưởng không nhỏ do nhiều đời trước như thế, gọi là túc duyên.

1.1.    Túc duyên sâu dày, đời này mới tu mà mau ngộ.

Xã hội Ấn Độ thời xưa phân chia ra thành bốn giai cấp sang hèn rõ rệt và sự phân biệt đối xử nặng hơn bây giờ. Ni-đề khi ấy là một người thuộc giai cấp hạ tiện làm nghề đổ phân thuê. Sau khi được đức Phật độ cho xuất gia, không bao lâu, Tỳ-kheo Ni-đề chứng thánh quả. Việc cho một người thuộc giai cấp hạ tiện xuất gia đã khiến cả thành Xá-vệ xôn xao. Vua Ba-tư-nặc xa giá đến can thiệp. Cho đến khi biết vị tân Tỳ-kheo Ni-đề đã chứng Thánh quả, vua bất ngờ, mới thưa hỏi Phật nhân duyên vì sao vị này sanh nơi hạ tiện, nhưng lại tu hành mau chứng thánh quả?

Đức Phật kể lại, vào thời Phật Ca-diếp, sau khi ngài nhập Niết-bàn, Ni-đề lúc này là chủ Tùng Lâm với hơn mười vạn Tăng Ni. Có lần vị chủ Tùng Lâm phải uống thuốc xổ. Cậy thế mình làm một vị chủ, không chịu đi ra nhà cầu mà mua một cái bình bằng bạc mạ vàng, đi đại tiểu tiện vào trong đó, rồi bắt một người đệ tử đem ra ngoài đổ. Song người đệ tử ấy đã đắc quả Tu Đà Hoàn.

Không có tâm khiêm nhường, không phân biệt được người hay kẻ dở, cậy mình có thế lực, giữ việc Tăng chúng, gặp chút bệnh nhẹ lười biếng không chịu đi, sai vị Thánh nhân đổ phân cho mình. Vì nhân duyên ấy mà bị lưu lãng trong vòng sinh tử, thường phải làm kẻ hạ tiện trong năm trăm đời, đi đổ phân thuê cho đến ngày nay. Cũng do công đức xuất gia trì giới cho nên hôm nay mới được gặp Phật Thích Ca Mâu Ni độ cho xuất gia. Vì kiếp trước có tu hành cho nên hôm nay mau chứng đạo.

Kiếp trước có mắc tội thì phải đọa lạc, nhưng nhân duyên tu hành vẫn không bị mất. Khi trả hết nghiệp, công đức tu hành phát huy, vì vậy mau chứng đạo. Cho thấy, việc được tiến đạo nhanh hay chậm, một phần lớn còn tùy thuộc vào nhân duyên tu hành của nhiều đời về trước (túc duyên).

Xưa kia Lư Hành Giả (là Lục Tổ Huệ Năng lúc còn cư sĩ tại gia) gánh củi ngang qua nhà dân, vừa nghe tụng Kinh Kim Cang liền có tỉnh. Về nhà sắp xếp mẹ già xong xuôi, Ngài thẳng đến Hoàng Mai gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn xin xuất gia. Chưa bao lâu, được Ngũ Tổ trao truyền y bát kế thế tổ vị. Ngược lại, Đại sư Thần Tú là bậc giáo thọ thượng thủ lâu năm trong chúng, nhưng chưa có chỗ ngộ nhập, không được truyền pháp. Đây là do túc duyên nhiều đời về trước có tu, đã có chỗ ngộ nhập cho nên đời này Lư Hành Giả chưa tu hành bao lâu mà đã chứng ngộ.

Thực tế hiện nay, trong đại chúng có nhiều vị xuất gia tu tập đã lâu, đời sống mẫu mực, sớm hôm tinh cần tu tập, đạo hạnh sáng ngời, nhưng đối với đại pháp vẫn chưa sáng, chưa thể tỏ ngộ bản tâm. Ngược lại, có nhiều vị mới vào thiền viện chưa bao lâu, tu tập chưa nhiều, nhưng lại tỏ ngộ tâm tánh nhanh đến không ngờ.

1.2.    Đều do chính mình.

Ngoài việc nỗ lực tinh cần siêng năng tu tập, việc tiến đạo nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào túc duyên tu hành của mỗi người từ nhiều đời về trước. Đây là việc của mỗi người chứ không ai thay mình làm giúp được. Khi còn ở đời, ngài A-nan là người thân của dòng họ Thích. Đến lúc xuất gia, ngài là thị giả sát một bên Phật. Nhưng đức Phật cũng không thể giác ngộ giúp cho ngài A-nan được. Đây là một sự thật. Nếu muốn thấu tột nguồn tâm, ngộ suốt bản tánh, chỉ tự nơi mỗi người. Phật Tổ và Thiện Tri Thức chỉ là người chỉ đường, kích phát và trợ duyên thôi. Biết như vậy rồi, nếu mình tiến đạo nhanh hơn huynh đệ khác thì cũng không có gì lấy làm tự hào. Bởi cũng do chính công phu tu tập của mình từ nhiều đời về trước cho nên hiện nay mới đạt được vậy thôi. Nếu ai quyết chí tu hành cũng sẽ đạt được như thế, cũng là chuyện rất đỗi bình thường, không có gì để lấy làm đắc chí, để phải bị chướng đạo.

Ngược lại, khi thấy huynh đệ mới vào tu nhưng mau ngộ hơn mình thì chúng ta nên mừng cho huynh ấy. Bởi việc ấy đã có nguyên tắc, tùy thuộc vào công phu tu tập quá khứ của từng người. Không ai có thể ban cho ai được; và cũng không bất kỳ một ai có thể cản trở được việc tiến đạo trong tâm của mỗi người. Muốn mau tiến bộ thì chúng ta phải nhìn nhận thực tế và nỗ lực tu hành. Nếu có sanh tâm khác đi cũng không thể thay đổi gì được, có khi còn tồi tệ.

Hơn nữa, đời trước đã tu hay hiện nay mới tu hành, đều do chính mỗi chúng ta dụng công tu tập chứ không ai làm giúp được cả. Nếu kiếp trước chưa tu thì bây giờ bắt đầu tu tập. Không phải thấy mình tu hành vất vả hơn huynh đệ mà không tiến bộ rồi nản chí. Không nên đổ lỗi cho quá khứ rồi thối tâm.

2.  CHUYỂN HÓA NGHIỆP BÁO XẤU ÁC.

Đại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai kể lại câu chuyện để răn nhắc vị Tri sự.

Trước kia có một ngôi chùa thầy trò khoảng vài trăm, ngày đêm tọa thiền, tụng kinh, không bỏ trống thời giờ. Có một cư sĩ làm việc công quả trong chùa, đang ngồi chụm lửa trước lò, trộm nghe thuyết pháp. Vị này để tâm chăm chú, bất ngờ ngồi bệt trước bếp lặng lẽ nhập định. Lửa tắt, nước lạnh. Thầy Duy-na sợ chậm trễ bữa ăn của đại chúng, lên bạch với Thượng tọa. Thượng tọa bảo đây là việc thù thắng, chúng hãy nên chịu đựng, dè dặt chớ làm kinh động. Qua mấy ngày sau vị ấy mới xuất định, đến trước Thượng tọa trình bày đầy đủ những điều đã chứng rất sâu xa. Nhân đó Thượng tọa hỏi thêm về nhân duyên kiếp trước, do tội gì mà làm thân hạ tiện? Do phước gì mà được tỏ ngộ dễ dàng đến vậy? Vị này đáp: “Tiện thân này đời trước là Thầy của đồ chúng lớn tuổi hiện tại. Những điều đồ chúng đang học hiện nay đều là những điều ngày xưa tôi dạy. Lúc bấy giờ, phần nhiều có những khách riêng, tôi luôn tự ngăn giữ mình, không dám xâm phạm của chúng. Một hôm bất ngờ có vị khách đến. Trong lúc gấp, bèn tự lấy một ít rau của chúng mà quên bù lại cho đầy đủ. Do đó bị quả báo, nay làm kẻ giúp việc trong chúng. Trước đã huân tập tu rồi cho nên nay ít tu mà dễ ngộ. Tội phước rõ ràng. Việc ấy như vậy”. Toàn chúng nghe xong, ngậm ngùi khôn xiết.

Qua câu chuyện trên cho chúng ta thấy có ba sự chi phối của quá khứ đến cuộc sống hiện tại rõ rệt. Một là đời trước vị này đã là một bậc Thầy trong chùa, nhưng lỡ tạo nghiệp xấu (lấy rau của chúng mà quên bù lại) cho nên đời này phải làm người giúp việc, chưa đủ duyên xuất gia. Hai là kiếp trước có tu cho nên đời này có được túc duyên, phúc lành, ít tu mà mau chứng đạo. Ba là đã có nhân duyên tu hành do đó đời này sanh ra liền vào chùa làm người giúp việc, tiếp tục tu hành, chứng đạo. Không phải chỉ riêng vị cư sĩ trong câu chuyện trên mà đó là nhân duyên của tất cả mọi người.

Tất cả chúng sanh vào đời, ai cũng mang theo ba gói hành trang như thế. Một là phúc lành cho chúng ta có những may mắn và điều kiện sống. Hai là nghiệp báo xấu ác do đó thi thoảng có những điều bất như ý. Ba là nhân duyên khiến mỗi người có mỗi hướng đi, công việc khác nhau. Chưa phải là thánh nhân thì không ai tránh khỏi các sự tác động chi phối ấy. Người tu hành cũng vậy, chỉ có khác là có trí tuệ nhận ra và biết cách chuyển hóa chúng theo lập trường và hướng đi của mình để tu hành cho tiến bộ. Cụ thể ở đây là chuyển hóa những nghiệp báo chưa được tốt.

Muốn chuyển hóa được nghiệp báo, chúng ta nên lưu ý những điểm cơ bản sau:

2.1.    Xem nghiệp chướng là huyễn hóa, không thật.

Gặp một chuyện bất như ý chưa đến nỗi nào, nhưng liền nói đây là báo chướng, thì sự việc trở nên trầm trọng, chúng ta bị chi phối hơn cả những gì nó có. Ngược lại, khi mọi thứ đang diễn ra, chúng ta nên tĩnh tâm thấy rõ nghiệp báo xưa nay vốn không thật. Bởi nó là thứ do chúng ta tạo tác mà thành. Đồng thời, nếu biết chuyển hóa thì nó không thể còn mãi. Bởi nếu chắc thật, còn mãi thì không thể tiêu trừ được nghiệp, không ai tu hành thành đạo được. Nhưng thực tế vẫn có nhiều bậc đắc đạo cho nên nghiệp báo có thể chuyển hóa, tiêu dung. Do đó, nó không bền chắc, không thật. Như người ngủ mê, mơ thấy bị cọp đuổi khiếp sợ vô cùng, nhưng thức dậy thì chỉ còn là ảo ảnh, không còn giá trị khiến chúng ta sợ hãi. Tất cả cảnh trong mộng không có thật, nó chỉ chi phối được người còn ngủ mê và không có giá trị gì với người đã thức dậy. Cũng vậy, thực tế nghiệp chỉ có giá trị chi phối khi chúng ta còn mê và sẽ là lặng trong khi hành giả đã chứng ngộ. Đây là một sự thật, bậc đã đạt ngộ tự mình thấy ra rất rõ.

Trước đây mấy mươi năm, có những chuyện đau buồn khiến chúng ta chỉ muốn chết, muốn lánh xa mọi người, không còn sống nổi… Nhưng bây giờ thì nó chỉ còn là câu chuyện cổ tích, không có giá trị. Tương tự, nhiều chuyện xảy đến hiện tại, thay vì sau này mới nhận biết thì chúng ta bình tâm tỉnh trí, kịp thời nhận ra sự thật ấy ngay từ bây giờ, sẽ không bị các khổ đau oan uổng. Mới thấy, nghiệp vốn không thật. Thấy rõ như vậy thì mọi chuyện sẽ nhẹ, giảm bớt sự chi phối, chúng ta sẽ có nội lực hơn, mới tiêu dung được chúng.

2.2. Không khởi tâm trả nghiệp.

Không sanh tâm, hãy nên để yên như là ru ngủ để cho nghiệp ngủ yên. Không nên khởi tâm trả nghiệp cho hết để tu hành mau tiến bộ. Bởi như thế sẽ làm cho mọi chuyện trở nên trầm trọng và tồi tệ hơn.

Ví dụ nhiều năm khổ cực, vay nợ hàng xóm quá nhiều không nhớ nổi. Bất ngờ trúng số được 500 triệu, mừng quá và tuyên bố với mọi người tôi sẽ trả hết tất cả. Nợ nần thì cả mười tỷ, mới trúng có 500 triệu mà tuyên bố trả hết. Mọi người đến nhà đòi mà không có đủ để trả cho họ. Người được người không thì chắc chắn sẽ có chuyện không tốt. Đó là do tuyên bố trả nghiệp mà bị nghiệp khảo.

Một cách khác là không cần tuyên bố. Khi trúng số, không trốn nợ cũng không tuyên bố trả nợ; cứ bình thường và đầu tư kinh doanh cho có tiền nhiều thêm. Thỉnh thoảng có người đến đòi vài trăm, số tiền quá nhỏ so với tiền mình đang có, do đó tự động trả một cách dễ dàng, nhẹ nhàng mà không hề thấy nặng nề là đang trả nợ gì cả. Đó là trả mà không trả.

Nợ nần nghiệp chướng chồng chất nhiều đời của mỗi người cũng vậy. Khi tuyên bố hay phát nguyện ‘cho tôi trả hết nghiệp để tu’ là đã có tâm sanh, có dấu vết, có chỗ cho chướng nghiệp thấy và đến đòi tới tấp. Quá khứ lỡ lầm tạo nên nghiệp chướng vay mượn nhiều đời lớp lớp chất chồng làm sao biết hết. Trong khi đó mới tu chút chút, đạo lực chưa có bao nhiêu, như tiền còn quá ít mà đòi trả nợ thì bị khảo, bị chướng duyên ngập tràn, không thể tiếp tục công phu được nữa.

2.3. Sám hối.

Song song với các việc làm khác, thành tâm sám hối là việc tối cần thiết để tiêu dung nghiệp báo. Sám là ăn năn lỗi trước. Hối là hối cải, chừa, ngăn ngừa lỗi sau. Sám hối phải bằng tâm chí thành, chí thiết chứ không phải làm lấy có. Sám hối chỉ là thành tâm sám hối thôi, không tính đếm thời gian. Xem đây là việc làm thường nhật khiến mình hoan hỷ, không khởi tâm trông mong bao giờ mới hết nghiệp thì sẽ có kết quả bất ngờ. Trong việc này, nếu càng khởi tâm nhiều thì càng bị rắc rối lắm chuyện. Một mặt trong tâm đã loạn động, mất năng lượng, lòng bất ổn. Mặt khác bên ngoài lại có lắm chuyện chi phối khiến cho mình rối rắm, mệt mỏi, có khi bất lực.

2.4. Tu tập các thiện pháp.

Cuối cùng là tu tập các pháp lành. Trên đời có ba sức mạnh chi phối đến con người rất lớn. Đó là nghiệp lực, phước lực và trí lực. Tu tập các thiện pháp tạo nên phước lực vô biên, giúp chúng ta hóa giải các nghiệp báo xấu đã lỡ tạo trong quá khứ.

Nghiệp báo xấu ác ví như nắm muối. Thiện pháp như nước hòa tan. Nếu ít nước thì muối của nghiệp bị mặn, khiến cho chúng ta đau khổ, là có trả nghiệp thật. Nếu pha nắm muối này vào trong nồi canh cho khoảng 200 người ăn thì muối tuy mặn, nhưng chỉ làm cho canh ngon hơn mà thôi. Đây là trả mà không thấy có trả nghiệp.

Quá khứ do mê muội cho nên trót đã lỡ tạo không biết bao nhiêu nghiệp không tốt. Hôm nay tỉnh tâm tu tập, muốn hóa giải nghiệp báo ấy cũng phải biết cách, đúng pháp. Cụ thể, để yên kho muối của nghiệp báo đó, không trốn tránh, cũng đừng đụng đến hoặc thọc khều gì cả. Mặt khác cho nước thật nhiều vào như ao hồ sông suối, tức là siêng năng tu tập thiện pháp. Thi thoảng một vài hạt muối đủ duyên rơi xuống ao hồ ấy thì cũng không thấy có mặn hay khổ đau gì. Cứ như thế để lo việc tu hành, tỉnh giác; mở tâm lớn rộng, tu tập các thiện pháp, chứ đừng đi thọc kho muối thì việc tu tập của chúng ta mới được thuận duyên và tiến bộ. Đó là vừa khéo tu tập, vừa biết cách hóa giải nghiệp báo xấu ác. Chỉ là khéo tu chứ không hề khởi tâm chuyển hóa, tiêu trừ nghiệp báo gì cả, cho nên mới được thành tựu. Cho thấy, tu không phải để tiêu trừ nghiệp chướng phiền não, mà tu là sống thẳng bản tâm giác sáng, tùy duyên thực hành thiện pháp thì mọi thứ tự nó được tiêu trừ.

3.  TU TẬP THIỆN PHÁP.

3.1.    Phước đức hữu lậu và công đức vô lậu.

Tu tập thiện pháp không phải đơn thuần là tu tạo phước lành, mà việc làm thiện lành này phải bắt đầu từ bản tâm thanh tịnh, đạt đến Ba-la-mật (rốt ráo).

a)  Làm phước.

Làm phước thì chỉ đơn thuần là làm các việc tốt cho mình và mọi người, chưa chú trọng đến công phu tu tập miên mật, giữ tâm thanh tịnh và đạt đến Ba-la-mật . Chưa thực sự rỗng lặng cả ba: mình thí, của thí và người nhận đều thanh tịnh, vắng bặt, không khởi tâm động niệm. Đây mới chỉ là phước đức hữu lậu của trời người.

b)  Tu tập thiện pháp.

Cũng làm việc thiện lành, nhưng trong sự tu tập, tỉnh sáng. Sống bằng tự tâm giác sáng mà tùy duyên hoan hỷ trên các nhân duyên cần làm cho đời, cho đạo, cho tất cả chúng sanh. Tuy làm vô vàn công việc hữu ích mà không rời bản tâm giác sáng kia. Không thấy có mình làm, không thấy có việc được làm và không khởi tâm thấy có người thọ nhận những điều lợi lạc do mình làm nên. Đạt đến rốt ráo (Ba-la-mật ) như thế thì tâm và cảnh không hai, sự việc và sức giác sáng không phải một, không phải khác. Nhúc nhích động tịnh, chính là tâm này. Vì làm trong sự tu tập như thế cho nên đạt đến công đức vô lậu. Tất cả hồi hướng đến quả vị vô sanh thành Phật sau này, chứ không kẹt trên tướng của phước đức hữu lậu còn trong sanh diệt trời người. Đó là khéo tùy duyên, tùy thời, tùy thuận để tu tập các thiện pháp.

3.2. Tu tập thiện pháp và tự tánh giác sáng.

a)    Tâm Bồ-đề và thiện pháp luôn đi đôi trong đời sống tu hành, không thể thiếu khuyết một.

Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật dạy:“Quên mất tâm Bồ-đề mà tu hành các thiện pháp, gọi là hành động của ma.”. Bồ-đề là giác. Tâm Bồ-đề là bản tâm giác sáng, không động. Rời tâm giác sáng này, ở trong vọng động sanh diệt mà làm các việc lành, vẫn còn là hành động của ma. Ví như chúng ta sốt sắng, rất nhiệt tình để ủng hộ người nghèo. Nhưng hôm nào đó phát quà không đủ, bị người không có quà chửi mắng khiến mình sân hận, thề thốt nhiều điều không hay, tạo nghiệp rồi phải đi vào đường ma. Làm công đức bấy lâu, hôm nay chỉ cần một đốm lửa sân là thiêu rụi hết. Mới thấy tâm vọng động ma quái này nó sẽ khiến chúng ta làm những hành động ma quỷ bất cứ khi nào không rõ. Phải bằng tâm Bồ-đề giác sáng để sống, tu và làm tất cả việc lành thì chính tâm giác này và thiện pháp mới đưa chúng ta đến quả vị Phật.

Chư Tổ dạy: “Nhận được trí tuệ Kim Cang rồi thì mọi việc đều vô ngại, pháp pháp thảy đều thông, việc làm tầm thường hàng ngày là Phật pháp, đi đứng nằm ngồi cũng là Phật pháp, bình thường tâm càng không ngoài Phật pháp. Thần thông diệu dụng vô thượng đã là Phật pháp thì vui cười giận trách thảy đều là phương tiện thiện xảo, cũng không ngoài Phật pháp. Nếu chưa tỏ ngộ trí tuệ Kim Cang, dù có thần thông dời núi lấp biển cũng chỉ là tà thuật của yêu ma ngoại đạo.”. Cho thấy, tất cả các hành động, việc làm đều căn cứ vào tâm Bồ-đề giác sáng cứng chắc như Kim Cương để xác định đã hợp đạo hay chưa, chứ không thể nhằm trên sự tướng để đoán biết và khẳng định được.

Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm nói: “Bậc thiện tri thức trong thiên hạ chưa chứng quả lên Niết-bàn bởi vì công chưa bằng với chư Thánh.”. Chỗ thấy đồng chư Phật, nhưng công hạnh lợi tha chưa bằng chư Thánh (Phật) cho nên chưa chứng quả Niết-bàn. Hành giả tu tập, trước cần phải kiến tánh, ngộ tâm. Kế đến sống thẳng bằng tâm tánh ấy, tùy thời tiêu dung tập khí, đóng cửa các đường ác (không làm các điều ác), thực hành hạnh lợi tha, giáo hóa độ sanh. Không rời tự tánh giác ngộ mà tu hành các thiện pháp thì mới có ngày công viên quả mãn, thành tựu Phật đạo.

Đức Phật là đấng “Lưỡng Túc Tôn”, tức là phước đức và trí tuệ đều tròn đầy viên mãn. Hành giả tu hành nếu chỉ thiên về trí tuệ mà khuyết phước đức thì không thể thành Phật.

Những lời dạy và sự thành tựu của Phật Tổ là một minh chứng hùng hồn, nhấn mạnh tầm quan trọng của tâm Bồ-đề giác sáng cứng chắc như Kim Cương và các thiện pháp phải đầy đủ viên dung trong đời sống tu hành của mỗi hành giả. Thiếu một trong hai đều bị thiên lệch, không hợp đạo, không thể tiến đạo và thành đạo được.

b)    Thiện pháp giúp cho công phu tu tập được thuận duyên, tiến đạo.

Thực tế cho thấy, người thiếu phước, sẽ thiếu duyên, gặp nhiều chướng ngại trong cuộc sống và công phu tu hành. Đồng thời, người chỉ thiên về vắng lặng mà bỏ quên các thiện pháp thì sự nhìn nhận thấy biết bị phiến diện, trí tuệ cũng không được lớn rộng và tròn đầy như người dung nhiếp cả hai.

Trên thực tế có nhiều huynh đệ cùng xuất gia một lượt. Có những vị vừa nhiếp tâm tu tập, vừa bận rộn nhọc nhằn với công việc xây dựng thiền viện. Những vị còn lại thì có nhiều thời gian rảnh rỗi để chuyên tu và học nhiều hơn, không tham gia công tác như huynh đệ mình. Một thời gian sau, những huynh đệ vừa chuyên tâm tu tập, vừa công quả thì có những bước chuyển biến trong tâm đặc biệt đến bất ngờ. Sau này ra làm Phật sự cũng rất thuận duyên, làm được nhiều việc lợi ích đáng kể cho đời, cho đạo. Những vị tu tập trong thuận duyên thì chỉ được an nhàn thanh tịnh trong một môi trường cố định an toàn vậy thôi. Khi bước vào công việc thì khó chăn giữ tâm mình; sự và lý trái ngược, tu hành và công việc bị xung đột, khó dung thông, gặp nhiều chướng ngại. Đồng thời, không đầy đủ nhân duyên để làm được những gì như nguyện. Đây là một sự thật đã hiện hữu rất rõ trong đời sống tu hành. Không phải chỉ trong một bộ phận mà gần như của tất cả. Thêm lần nữa cho chúng ta thấy rõ một minh chứng sống trong việc khéo léo dụng công tu tập trên hai cảnh động và tịnh. Đồng thời, sự thật này đã xác quyết, khẳng định, song song với việc sống về bằng tự tánh giác sáng, hành giả cần tu hành các thiện pháp để đạt đến thể dụng không hai, lý sự viên dung, sẽ tiến bộ đặc biệt, tự tại, tiêu sái.

c)  Tu tập thiện pháp và tự tánh giác sáng không hai.

Lục Tổ Huệ Năng nói:“Không lìa tự tánh tức là phước điền.”. Nhưng ngài vẫn đeo đá giã gạo chứ không phải ngồi không. Vì vậy ngài dạy:

Ngơ ngơ không tu thiện,

Ngáo ngáo không làm ác.

Lặng lẽ dứt thấy nghe,

Thênh thang tâm không dính.

“Ngơ ngơ, ngáo ngáo” là tâm bình lặng, không khởi tâm động niệm phân biệt trên các tình huống, hoàn cảnh. “Không tu thiện” là có làm các việc thiện lành, nhưng không chấp, không dừng trụ, không chú tâm vào chỉ mỗi công việc thiện lành đó mà không lo tu tập thiền định. “Không làm ác” là tuyệt đối không làm tất cả các điều ác, chứ không phải có làm mà không dính mắc như tu thiện. Hằng ngày sống bằng tâm sáng sạch, không khởi phân biệt (ngơ ngơ, ngáo ngáo), nhưng biết đóng cửa các đường ác (không tạo ác), tùy duyên làm các công đức lành mà không dừng trụ hoặc dính chấp (không tu thiện). Không tâm trên cảnh, không cảnh trong tâm. Không có chỗ an trụ, chăn giữ tâm, nhưng sáng biết suốt qua tất cả mà không phải là phân biệt của ý thức. Ngay đó, tâm thể vốn tự rạng ngời, thênh thang, không dính mắc gì,  không có gì làm cho ngăn ngại được. Vì vậy Tổ nói: “Lặng lẽ dứt thấy nghe, Thênh thang tâm không dính”.

Đây là Lục Tổ nói rõ sự cần thiết và phương pháp tu tập các thiện pháp. Tùy duyên chứ không phải bày biện lắm thứ. Các pháp thiện lành cần thiết, đủ duyên thì tùy hỷ và thực hiện, nhưng không rời bản tâm giác sáng. Hằng sống bằng bản tâm ấy, nhưng không phải chăn giữ, cố định phải ngồi yên hay làm gì. Duyên đến thì hiện bày cái thể trên dụng, khi không có duyên gì thì dấu cái dụng trong thể, ngàn thánh cũng khó để mắt dò tìm. Khéo sống như thế để tu tập các thiện pháp thì mới khế hợp với Phật đạo, sẽ có lúc thành Phật.

d)  Thiếu thiện pháp, không thể chứng đạo.

Vào thời Tổ Ưu-ba-cúc-đa có một vị tăng có tài quản lý công việc. Đi đến đâu các chúng Tỳ kheo cũng đều cùng nhau mời Ngài trông coi việc chúng tăng. Họ nói: “Trưởng lão hẳn là quản lý việc của chúng tăng. Đàn Việt nhân Ngài mà được sanh căn lành. Chúng tăng nhân Ngài mà được cúng dường”. Bấy giờ Tỳ kheo kia nhàm chán nhiều việc nên không chịu làm việc nữa, bèn qua Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa cầu học pháp. Tổ quán xét biết đây là thân sau cùng, lý đáng được đạo quả, chỉ vì phước chưa đầy đủ nên chưa được. Tổ Ưu-ba-cúc-đa dạy nên vì chúng tăng mà đi khuyến hóa, lo sắm đồ cúng dường. Khi dâng tứ sự cúng dường đại chúng tăng và được Thượng tọa chú nguyện xong, Tỳ kheo này liền đắc quả A-la-hán.

Cho thấy, thiện pháp là một trong những nhân duyên góp phần vào việc tu tiến, chứng đạo rõ ràng. Vị Tăng trên có được nhân duyên rất thù thắng. Khi còn thiếu chút phước mới chứng đạo thì được nhân duyên đưa đẩy, khiến Ngài đi đến đâu cũng được đại chúng tín nhiệm mời đảm nhiệm các công việc để tăng thêm phước đức, góp phần vào trong nhân duyên chứng đạo. Nhưng Ngài nhàm chán không chịu làm nữa thì lại có Tổ Ưu-ba-cúc-đa chỉ cho để nhận ra, nhờ đó chứng được thánh quả.

Không phải ai cũng đầy đủ phúc duyên gặp được Phật Tổ chỉ dạy cho riêng mình như vị Tăng trên. Chúng ta sanh ra trong thời không trực tiếp gặp được Phật Tổ thì chỉ còn biết nương vào lời dạy của quý ngài để hành trì, quyết chí hạ thủ công phu đúng pháp, tu tập các thiện pháp, tạo công đức lành. Nếu tự mình không nhận ra để tự nguyện tu tập các thiện pháp thì nhân duyên sẽ sắp xếp việc ấy. Cụ thể khi được phân công làm công việc nhọc nhằn, vất vả cho đại chúng mà hợp đạo thì biết đây là nhân duyên lành để đưa mình tiến đạo như vị tăng trên. Nếu cứ chọn điều hợp với sở thích của mình thì đó là đi tìm điều hợp với phàm tình yếu đuối, chứ không phải biết rèn luyện để thành tựu Phật đạo. Bởi bậc đã sáng đạo thì không còn có cái mình để thấy hợp và không hợp với điều này, việc kia.

Đại sư Tông Bổn Viên Chiếu, người đời Tống, thiên tánh nhân từ, thông minh dĩnh ngộ, giỏi thơ phú, nương theo pháp sư Vĩnh An Đạo Thăng xuất gia học đạo. Đạo Thăng là một Đại sư đức học đạt đến chỗ thâm sâu, đối với kinh điển có ngộ giải đặc biệt, đạo hạnh rất cao, rất được mọi nhân sĩ từ triều đình đến dân dã kính trọng. Trong tùng lâm, mọi người chẳng tiếc ngàn dặm xông pha, từ xa đến cầu đạo rất nhiều. Ngài Viên Chiếu Tông Bổn theo hầu một bên Đại sư, thấy khá nhiều người đến trước cầu đạo, liền đem lòng xót thương kính phục.

Sư thường mặc y rách, gánh nước chặt củi, xuống bếp chuẩn bị ẩm thực để cúng dường đạo hữu đến tham học. Tuy ban ngày làm việc Tăng bận rộn, nhưng chiều đến, Sư vẫn đến chỗ ân sư tham học, chẳng dám lười biếng kiêu mạn mảy may. Có lần, ngài Đạo Thăng hỏi: “Hành hạnh đầu đà, vì đại chúng làm việc bận rộn, có cảm thấy mệt nhọc chăng?”. Sư đáp: “Nếu bỏ một pháp tức chẳng thể viên mãn Bồ-đề. Con vì muốn đời này có chỗ chứng ngộ, đâu dám nói mệt mỏi!”. Tinh thần của Sư khiến người người kính phục.

Người xưa quên mình vì đạo, chỉ một bề hướng tiến đạo lý chân thật, không nghĩ đến bản thân cho nên mới có ngày tỏ sáng đại đạo. Thời nay vật chất dồi dào, đời sống nhiều tiện nghi, nếu không khéo tu tập, chúng ta dễ ngủ quên trên sự chôn vùi của những tiện nghi hiện đại, vật chất dồi dào ấy, thì liệu có còn thấy “Đạo là gì, ở đâu?”.

e)  Sự lý viên dung.

Ngài Tăng Triệu nói: “Hữu vi tuy ngụy, xả chi tắc đại nghiệp bất thành. Vô vi tuy thật, chấp chi tắc huệ tâm bất lãng.”. Nghĩa là, các pháp hữu vi, các công việc thiện pháp tuy hư huyễn, nhưng nếu bỏ nó thì đại nghiệp thành đạo sẽ bị kém khuyết, không thể viên thành. Pháp vô vi, tức là tâm tánh này dù thật, nhưng nếu chấp trụ vào nó thì cũng không thể phát huy được tự tánh vốn giác sáng trùm khắp ấy.

Thực tế, các pháp từ tâm. Tâm chưa tỏ sáng thì dù có ngồi không để tu hành cũng chỉ là kềm đè, buộc niệm, chưa thoát khỏi tạo tác sanh diệt. Khéo ngay đây nhận thẳng bản tâm giác sáng an nhiên, người này sẽ có năng lực tùy thuận tốt trên các công việc thì việc nào cũng không ra ngoài tâm giác sáng, đâu đâu cũng là Phật pháp cả. Đâu có phân biệt thấy đây là pháp hữu vi để bỏ, kia là pháp vô vi để buộc mình trong đó? Sống như thế, tự viên dung, hợp đạo.

Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu nói: “Thật tế lý địa, bất thọ nhất trần. Vạn hạnh môn trung, bất xả nhất pháp.”. Trong chỗ rốt ráo vốn không một vật, các pháp không đến được, do đó Ngài nói “không dính một mảy trần”. Là quay lưng, ‘không làm gì cả’ mới được không dính? Hay vẫn đối diện để ‘làm tất cả’ mà vẫn không dính dáng gì? Nói là ‘quay lưng với cảnh’ hoặc cố định phải ‘đối diện với công việc’, đều chưa rời khỏi công việc và hoàn cảnh để nói, là quên tâm này rồi, không phải là chỗ “Thật tế lý địa”. Chỉ cần nhận thẳng tâm này thì tùy duyên tùy thời để ‘làm tất cả công việc’ hoặc ‘không làm gì cả’ một cách tự tại, tiêu dao; như nắm lên hoặc buông xuống một vật nhỏ trong tay, không có gì phải đặt vấn đề cả. Cho nên Ngài nói, tuy chỗ thật tế không nhiễm một mảy trần, nhưng trong cửa muôn hạnh không bỏ một pháp. Còn có tâm lấy bỏ thì tâm này chưa sáng khắp, thể dụng còn phân định, lý sự chưa viên dung, là chưa khế hợp với đại đạo.

Trên đây là những gương hạnh sống, những lời dạy thống thiết cho người sau về việc tu hành làm sao cho được viên dung, đạt đến viên mãn, không bị thiên lệch một bên dù đó là sự hay lý, thể hoặc dụng.

3.3.  Khổ luyện, nung chí, rèn tâm, mới mong thoát khỏi phàm tình và sáng đạo.

Lo làm các việc thiện mà không an tịnh tự tâm thì chưa rời khỏi sanh diệt tạo tác, chưa khế hợp với bản tâm thanh tịnh giác sáng, làm sao ngộ nhập? Ngược lại, nếu chỉ một bề chú trọng về lý mà bỏ sự, không tu tập các thiện pháp thì không đạt đến lý sự viên dung, cũng không thể tiến đạo. Cụ thể, đối với người mới tu tập, do phước đức còn giới hạn cho nên buổi đầu thường gặp nhiều chướng ngại. Thân có khi bị bệnh; đời sống có nhiều nghịch duyên; tâm thì không sáng, có khi cảm thấy chán chường không biết mình đang muốn gì. Với người tu hành lâu hơn thì bị trì trệ, nặng nề. Tâm thì không thấy có tiến bộ, không phấn chấn, sáng suốt. Cuộc sống tu hành thì cứ bình bình, đơn điệu, như thể sống qua ngày đoạn tháng cho hết kiếp vậy thôi. Có khi tìm lấy những niềm vui trên nhiều sự tướng của cuộc thế. Nhưng tất cả những niềm vui thế gian đều có giới hạn và ít ỏi, khiêm nhường, không đủ lớn để giúp cho con người ta vui mãi. Chỉ có niềm vui của thiền duyệt, pháp hỷ mới vĩnh cữu, khiến cho chúng ta mãn ý. Ở trong đạo càng lâu mà không tiến bộ, không có niềm vui với chánh pháp thì tâm sẽ có nhiều khúc mắc, tự sanh chướng ngại khó lường. Tất cả đều do buổi đầu mới vào đạo muốn an nhàn, không chịu khó rèn luyện, tu tập các thiện pháp, về sau phải bị nhiều thiệt thòi đáng tiếc như vậy.

Thiền sư Quang Sơn Huệ Huyền là người khai sơn trụ trì chùa Diệu Tâm. Sư chỉ xây cất những ngôi nhà đơn giản, thô sơ để thờ tự và tu tập, không chú trọng đến đồ vật trang trí, không thích những nghi lễ rườm rà. Phong cách giảng dạy và đào tạo của Sư rất nghiêm khắc. Sư đòi hỏi nơi đệ tử một ý chí, một tâm thái mạnh mẽ tinh tấn tuyệt đối. Đa số người học sau một thời gian đều không chịu nổi, rời Sư ra đi. Chỉ có thiền sinh nào đầy ý chí kiên trì mới dám ở lại tu tập. Dưới sự hoằng hóa của Sư, Diệu Tâm tự được gọi là “Địa ngục tột cùng của Phật pháp.”.

Có lần Ngài Mộng Song Sơ Thạch trụ trì chùa Thiên Long là vị Quốc sư bảy triều Vua, đến thăm Diệu Tâm Tự. Thấy chùa đơn sơ, không nặng vật chất, đại chúng khổ hạnh, tu hành nghiêm cẩn, ngài Mộng Song nói, chính nơi này sẽ làm cho Phật pháp hưng thịnh, ngày sau con cháu của Huệ Huyền sẽ được truyền thừa lâu dài. Ta tuy được danh tiếng, tiện nghi, nhưng con cháu của ta về sau bị dứt tuyệt, không còn nữa.

Đúng như lời Quốc sư Mộng Song nói, nhờ vào chùa chiền đơn sơ, không nặng nề lệ thuộc vật chất, sự giáo hóa nghiêm minh, đại chúng tu hành nghiêm cẩn mà thiền Lâm Tế chánh mạch được truyền đến những đời sau đều qua dòng này. Cho đến nay, dòng thiền của Sư đã trở thành dòng thiền chính thống của tông Lâm Tế Nhật Bản. Kết hợp ba vị đại Thiền sư: Quốc sư Đại Ứng (là Thầy Quốc sư Đại Đăng), Quốc sư Đại Đăng (là Thầy Ngài Quan Sơn Huệ Huyền) và Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền trở thành một Pháp hệ Thiền Lâm Tế Nhật Bản nổi tiếng: Ứng-Đăng-Quan.

Một thực tế cho thấy, hiện nay xã hội ngày càng phát triển, vật chất dồi dào, đời sống tiện nghi, tinh thần dễ dãi cho nên khó tìm được bậc pháp khí như ngày xưa. Hy vọng, đã có duyên với chánh pháp thì mỗi người tự biết làm cho mình trở thành một bậc pháp khí, có lợi ích lớn cho đạo, cho đời, mới không luống phí một đời trôi suông vô ích.

3.4.    Tóm lại.

Nếu hành giả biết lúc nào nên chuyên tu, đạt thể. Khi nào mới đủ lực để dấn thân vào sự, phát huy diệu dụng. Khéo cân bằng hài hòa giữa lý tánh và sự thế để đạt đến thể dụng không hai, lý sự viên dung; tiến đạo như thế mới khế hợp với đạo giác ngộ giải thoát Phật Tổ đã chỉ bày, sẽ có lúc thành tựu Phật đạo.

4.  CẦU THIỆN TRI THỨC, MINH SƯ – DỤNG CÔNG ĐÚNG PHÁP.

4.1.    Cầu Thiện Tri Thức, thân cận minh sư.

Kinh A Hàm, đức Phật dạy bốn nền tảng đưa hành giả đạt đến giác ngộ:

a)    Trung thành với Thầy Tổ.

b)    Tôn trọng và vâng lời Thầy Tổ.

c)    Gìn giữ Giới Luật tinh nghiêm.

d)    Tôn Trọng và Phụng sự đồng đạo.

Phát tâm tu tập, cần tìm bậc thầy là Thiện Tri Thức sáng đạo hướng dẫn cho mình. Khi đã theo thầy học đạo thì phải tuyệt đối tin tưởng, tôn trọng, trung thành và vâng lời Thầy Tổ, mới không bị các chướng ngại và tiến đạo được.

Trong Học Đạo Dụng Tâm Tập, Thiền sư Đạo Nguyên dẫn lời người xưa: “Phát tâm không chánh, muôn hạnh luống làm”. Ngài nói tiếp: “Người tu hành nên chọn xem bậc thầy chánh hay tà để nương về tu tập. Người học như gỗ tốt, vị thầy như người thợ. Dù cho gỗ tốt mà không gặp người thợ giỏi thì không bày được vẻ đẹp đặc biệt. Dẫu gỗ có cong, nếu gặp người khéo tay thì công khéo càng hiện rõ. Cũng vậy, tùy thuộc vào bậc thầy chánh hay tà mà chỗ ngộ của học trò có chơn hay ngụy, chiếu theo đây thì biết rõ”.

¯ Ngài nói về vị thầy chưa chín:

“... Lời lẽ của họ còn xanh, chưa chín. Chưa đến đỉnh của học địa, làm sao đến được bên thềm chứng ngộ? Chỉ truyền chữ nghĩa, khiến tụng danh tự, ngày đêm đếm báu cho người, tự mình không tiền phân nửa. Người xưa trách ở chỗ này. Hay là dạy người cầu chánh giác ngoài tâm,... Hoặc loạn dấy lên từ đó, tà niệm chính ở nơi đây. Dẫu rằng cho thuốc hay mà không dạy phương tiêu giải độc thì gây bệnh còn nặng hơn uống thuốc độc”.

¯ Ngài nói về vị thầy chân chánh:

“Là vị Thầy chân chánh, chẳng luận lớn nhỏ, chỉ là tỏ sáng chánh pháp, được bậc Thầy chánh ngộ ấn chứng. Văn tự chẳng lấy làm trước, giải hội chẳng lấy làm trước, có lực lượng khác thường, có chí khí cao vút, không câu chấp ngã kiến, không dính kẹt tình thức, hạnh giải tương ưng; đó chính là bậc Thầy chân chánh vậy”.

Người chưa sáng mắt, không thấy rõ đường thì không thể hướng dẫn người khác cùng đi được. Thầy khó thì trò mới nên. Nhưng phải là bậc thầy nào, khó về việc gì, bằng cách như thế nào, để đạt đến đâu...; tất cả phải được xác định rõ ràng qua trí tuệ thì mới xác định được cái “nên” không bị sai lệch. Nhất là thời đại hiện nay, nhiều thông tin trên mạng xã hội chưa được kiểm chứng, nhưng có nhiều vị học đạo hời hợt và dễ dãi với chính mình. Không có tâm tìm thầy học đạo, chỉ ngồi đó học theo những gì kịp thấy trên mạng, không biết là đã đúng hay chưa. Tu tập như thế sẽ rơi vào tai họa. Người trước sai, kéo theo nhiều thế hệ sai. Nhiều người sai như vậy thì cái sai lại vô tình biến thành đúng bởi hiệu ứng số đông chứ không phải khế hợp với chân lý. Còn những người đúng thì quá ít cho nên không được nhiều người hưởng ứng. Cuối cùng bị rơi vào tà kiến, đọa lạc. Tu hành để cuối cùng đi vào đường ma, đọa lạc, có lẽ không ai muốn chút nào. Người xưa rất cẩn trọng với việc này, vào trong thâm sơn cùng cốc, tìm thầy học đạo. Hiện nay phần nhiều quá dễ dãi, chỉ ngồi đó để tìm đạo tìm thầy hợp với sở thích và cái thấy của mình. Nếu đã là thánh thì không còn tìm thầy học đạo. Còn là phàm mà tìm những gì hợp với mình thì chỉ là hợp với phàm tình, làm sao khế hợp với đạo lý chân thật giác ngộ giải thoát được.

4.2. Dụng công đúng pháp.

Dụng công đúng pháp gồm có chọn pháp (trạch pháp) và đi thẳng, quyết chí hạ thủ công phu. Cụ thể, hành giả tu tập, trước tiên cần học thông những lời Phật Tổ chỉ dạy, nắm vững phương pháp hành trì. Kế đến quyết chí hạ thủ công phu khế với bản tâm, hợp với trung đạo, không rơi vào các cực đoan khác. Không quanh co vòng vo dài dòng để rơi vào kiến thức, tạo tác, sanh diệt. Như muốn lên đỉnh núi thì phải chọn cho mình một con đường thẳng tắt. Kế đến là một mực thẳng tiến, đến đỉnh, chứ không phải đi lòng vòng nhiều con đường cho hay, cho lạ.

Các Thiền sư hay ví dụ con đường thẳng tắt này như cá hóa rồng. Còn là cá thì có vẫy vùng đến mấy cũng không thoát khỏi nước, ướt vẫn cứ ướt. Khi đã bơi đến được vũ môn hóa rồng thì mới được tự tại, muốn lên trời hay xuống biển tùy thích. Tương tự, hành giả tu hành nên nhắm thẳng một con đường thẳng tắt nhất. Sau đó một mực thẳng tiến đến vũ môn, nơi rẽ nhánh giữa mê và ngộ, phàm và thánh. Dùng hết sức bình sinh quẫy mạnh một phát vượt thoát khỏi ngằn mé của động và tĩnh, sanh diệt và vô sanh, tâm này bừng sáng, mới được tự tại, tiêu sái.

5.  THỜI GIAN.

Yếu tố thời gian ở đây là thời điểm phù hợp. Hành giả dụng công đúng pháp, miên mật, khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm tự bừng ngộ, chứ không phải ước định trước một thời gian nhất định nào đó. Đồng thời, cũng không phải là tu hành giải đãi, hẹn từ từ cần có thời gian để chờ đợi ngộ đạo.

Cụ thể ở đây, hành giả khéo léo dụng công như thể thả mình vào nơi không nơi chốn, không còn có chỗ cho tâm sanh khởi, tự khế hợp với tự tánh, sẽ có lúc bừng ngộ.

5.1.    Trung đạo.

Thông thường người tu hành dễ rơi vào hai cực đoan. Một là ở vào chỗ an toàn rồi tu từ từ. Hai là nóng vội muốn mau ngộ đạo. Cả hai đều là cực đoan, không phải trung đạo, không hợp đạo. Tu hành trong cực đoan như thế dễ đưa đến nhiều sai lầm đáng tiếc, đánh mất cơ hội tiến đạo.

Thể đạo vô tướng vốn sẵn vậy. Không phải do làm, cũng chẳng phải không làm gì mà được. Bởi có làm gì dù đó là tu hành mà còn kẹt trên tướng, nóng vội mong mau ngộ đạo, đều rơi vào tạo tác sanh diệt. Ngược lại, nếu không làm gì cả, tu từ từ thì rơi vào vô minh. Cả hai đều không hợp đạo. Muốn tiến đạo, chúng ta cần nhận ra và khéo léo dụng công để ít nhất là không rơi vào hai cực đoan này.

¯ Không nóng vội:

Không phải gấp vội muốn mau ngộ đạo. Như thế sẽ rơi vào nhiều tiêu cực sau đó làm hỏng việc tu tập, có khi không thể tiếp tục được nữa.

¯ Không trì hoãn:

Không phải tu hành theo kiểu chần chừ, từ từ, tà tà, hẹn nay hẹn mai, không quyết tâm, tha thiết.

¯ Thời gian:

Rời hai cực đoan trên thì khế hợp với trung đạo, khế hợp với thể tánh, mới tỏ sáng thể đạo chân thật. Tức là sau khi đã học thông, nắm vững đường lối tu hành rồi, chúng ta chỉ còn yên lòng để quyết chí hạ thủ công phu. Thấy rõ và xác quyết, tin chắc rằng, tu hành như thế chắc chắn sẽ có lúc tiến đạo. Chỉ còn hạ thủ công phu như thế nữa là ngộ đạo thôi, không phân tâm hay mong ngóng gì nữa. Đây gọi là yếu tố thời gian.

5.2.  Để lại tâm bình thường.

Có một học Tăng đến pháp đường thưa với Thiền sư:

- Thiền sư! Con thường thường ngồi thiền, luôn luôn đọc kinh, thức khuya dậy sớm, tâm không tạp niệm, tự xét dưới tòa của Thầy không có ai dụng công hơn con, tại sao không cách gì khai ngộ?

Thiền sư cầm một hồ lô, một nắm muối hột đưa cho vị học Tăng, nói:

- Huynh đem hồ lô này đựng đầy nước, rồi bỏ muối vào cho nó hòa tan, lập tức, huynh sẽ khai ngộ.

Học Tăng vâng lời làm theo. Không bao lâu, chạy vào thưa:

- Miệng hồ lô quá nhỏ, con đem nắm muối bỏ vào, hòa tan không xong, lấy cây khuấy cũng chẳng động, con lại chẳng có cách nào khai ngộ.

Thiền sư cầm hồ lô đổ bớt ra một ít nước, lắc lắc vài cái, khối muối liền tan hết. Thiền sư từ tốn nói:

- Một ngày từ sáng đến tối dụng công, nếu chẳng để lại một chút tâm bình thường thì cũng như hồ hô đựng đầy nước, lắc không động, khuấy không được, thì làm sao tan muối? Làm sao khai ngộ?

Học Tăng thưa:

- Chẳng lẽ là không dụng công mà có thể khai ngộ?

Thiền sư bảo:

- Tu hành như đánh đàn, dây căng quá thì đứt, dây chùn quá thì khảy không ra tiếng. Tâm bình thường trung đạo, mới là gốc ngộ đạo.

Thoáng một chút không gian để chính mình buông thỏng. Lơi một chút thời gian, để chính mình chuyển thân. Không vội gấp, không trì hoãn; không khẩn khoản, không buông lung. Khéo sống và tu tập như vậy thì sẽ có lúc bất chợt tâm này bùng vỡ, vụt sáng không ngờ.

6.  KẾT LUẬN.

Thể đạo thênh thang, trùm khắp, nhưng sẵn đó nơi mỗi người. Nhận thì ngay đó liền nhận, không thì liền trôi qua nhanh, không có điều kiện nào cả. Nhưng phần nhiều chúng sanh do nghiệp thức che đậy, còn nhiều chướng duyên cho nên chưa thể một nghe ngàn ngộ, sự lý khó viên dung, do đó, bị rơi lại phía sau. Không thể nói giọng thánh một cách thiếu thực tiễn trong khi mình còn trong phàm tình mê muội, đó là tự mình lừa dối chính mình, đưa đến tai họa khó lường. Không còn cách nào hay hơn là phải thật thà với chính mình để quyết chí hạ thủ công phu, mới mong có ngày tiến đạo.

Trên quãng đường này, còn nhiều sự chi phối tác động đến lộ trình và đích đến. Một trong những số ấy thì năm pháp trên là những điều tối yếu ít nhất mà hành giả cần phải lưu tâm. Không kể đến những bậc tái lai, một đời nữa liền xong. Còn lại, còn là hành giả tu hành, nếu khiếm khuyết sơ suất với một trong năm pháp trên thì con đường trở về quê cũ của mình còn lắm chông gai, chưa biết chuyện gì xảy đến. Nhưng người cẩn trọng và miên mật thì việc tu hành lại suôn sẻ, nhẹ nhàng và tiến bộ bất ngờ. Sẽ tự mình hay ra, việc này không phải chỉ dành riêng cho Phật Tổ. Chắc rằng, không ai dại gì bỏ qua năm pháp ít ỏi, nhưng rất căn bản đưa đến tiến đạo như thế để tự làm khó mình.

 



TỰ XÉT CÔNG PHU TU TẬP

1.  TU TẬP LÀ SỐNG ĐÚNG CHÂN LÝ, RẤT THẬT.

Sự thật luôn là sự thật. Chưa nói đến nhiều kiếp, cuộc đời đợi đến già mới biết thì đã phải trả giá quá đắt và muộn màng, không còn kịp để sửa đổi. Tu tập là một cách sống, nhưng sống thật, sống đúng để không bị những hối tiếc ân hận về sau. Vì thế, hành giả tu tập không thể dễ dãi tin vội qua cảm xúc, mà phải bằng vào nhiệt huyết và trí tuệ để chín chắn suy xét tìm ra chân lý rồi mới thực hành. Không phải muốn dễ dàng chìu uốn theo cảm xúc của phàm tâm để vô tình tự đánh lừa chính mình. Tu hành là một cuộc sống tinh cần, rèn luyện trong an vui rất thật. Bởi chân lý luôn là sự thật, khiến cho chúng ta an vui mãi mãi. Xanh là xanh, vàng là vàng, nó được khẳng định bởi tất cả mọi người, không ai có thể chối bỏ được. Để đời sống tu hành đạt được như thế một cách cụ thể, chúng ta có thể kiểm tra lại mình qua các câu hỏi:

- Con người có thích những món đồ ưng ý hay không?

-   Ai cũng thích, không muốn rời bỏ.

Chúng ta có thực sự thích thú với những gì mình đang làm, đang sống hay không?

-  Cần kiểm tra để xác định lại cuộc sống, để thực sự được sống là chính mình, không đau khổ.

Có khi chúng ta buộc phải công kênh, ca ngợi việc của mình đang làm, nơi mình đang sống như là một khẩu hiệu vì đồng tiền, vì danh dự, vì cuộc sống chứ chưa hẳn đã yêu mến nó thực sự. Thử lắng lòng lại sẽ nghe tiếng lòng mình nói, sẽ nhận ra, chứ không cần biện minh hay nói cho ai nghe cả. Vì đây là cuộc sống của mỗi người chứ không phải của người khác. Không ai có thể sống thay cho mình và mình không thể nào lừa dối lòng mình được, dù có cố tình, mong muốn.

Hoặc có khi cuộc sống chỉ là một sự gắng gượng để sống. Vì hoàn cảnh bắt buộc như vậy chứ tôi cũng không thích. Cuộc sống này trót lỡ vậy rồi, cố gắng để sống cho tốt vậy thôi. Hoặc sống ngày nào hay ngày đó, chứ thực sự thì đã quá mệt mỏi rồi. Hay cuộc sống này cảm thấy ngày càng bị áp lực, căng thẳng quá...

Như thế là chưa thực sự được sống thật với những gì mình mong muốn. Tu hành phải là cuộc sống bằng chính mình lựa chọn chứ không bị bất kỳ ai hay bất cứ gì ép buộc. Không phải khiên cưỡng, chúng ta thực sự muốn tu hành và cảm thấy rất vui, rất may mắn khi mình được đủ duyên sống đời thanh cao, thoát tục như thế.

Ở thế gian, khi học hết học hàm, có đủ học vị rồi, có còn thích thú cắp sách đến trường nữa hay không?

-  Thực tế là không.

Cho thấy, song song với sự cần thiết và nhiều ý nghĩa khác, nó còn ngấm ngầm vi tế xem đây là vì tình thế chứ chưa hẳn là việc thực sự ưa thích cho tất cả mọi người. Học để hoàn thành cho xong học hàm chứ quá vất vả, không muốn ở trong đó mãi.

Khi tu tập, sáng đạo, niềm vui ngập tràn, tự tại tiêu sái, không còn khổ đau, hành giả có thích hay không?

-  Không thích cũng không được. Bởi trong thể tánh ấy tự hoan hỷ, an vui.

Qua các câu hỏi trắc nghiệm trên cho thấy, mọi thứ ở thế gian luôn có giá trị tương đối, nếu không muốn nói là hư dối, tạm bợ. Chân lý luôn là sự thật. Mọi người tự cảm nhận được ngay nơi chính họ. Hơn hết, nó được khẳng định bởi sự cảm nhận rất thật này nơi chính tự thân của tất cả mọi người. Bất kỳ ai đạt đến đều cảm nhận được giá trị thực như vậy, chứ không phải là một sự áp đặt, ép buộc, khiên cưỡng bởi một áp lực nào đó từ bên ngoài dù là vi tế, nhỏ nhiệm.

2.  VỀ THIỀN VIỆN (CHÙA) HAY ĐẾN (SANG) THIỀN VIỆN?

Quý vị ở Việt Nam sang nước ngoài định cư. Thời gian sau đủ duyên trở lại quê để thăm người thân. Ai cũng nói “Về Việt Nam” chứ không người nào nói “Sang Việt Nam” cả. Nói là “về” bởi xem Việt Nam là quê hương của mình. Vậy hiện nay, quý Phật tử đang “Về thiền viện” hay “Đến thiền viện”?

Đức Phật đến với cuộc đời rồi vào (trở về) Niết-bàn. Bởi Ngài đã giác ngộ giải thoát, không còn đắm nhiễm trong trần tục. Phần đông mọi người thường đến với Chùa, đi Chùa chứ ít có ai về được với Chùa. Nếu vị nào xuất gia nửa chừng không tu nổi nữa thì hoàn tục, tức là xem trần tục là nơi để trở về. Tại sao không nghĩ, không tu nổi thì về lại Chùa? Bởi tâm thế tục mạnh hơn tâm đạo pháp. Cho nên các bậc Tổ đức dạy: “Đạo niệm nếu bằng với tình niệm thì thành Phật đã lâu rồi”.

Về là trở về lại chốn chân thật của chính mình. Đến là ra đi để tạm đến một nơi khác. Về thiền viện là về nơi tu tập, để được trở về lại ngôi nhà vô tướng muôn thuở chính mình. Vậy, chúng ta đang xem việc tu tập chánh pháp là trở về? Hay chỉ là một nơi tạm đến để rồi sẽ về lại ngôi nhà thế tục? Đặt lại câu hỏi nơi tâm mình, sẽ nhắc thức và định vị rõ ràng tâm thế tu tập.

3.  TÂM HƯỚNG ĐẾN ĐẠO LÝ CHÂN THẬT HAY THẾ GIAN?

Tự hỏi, mình đang tu tập để có lực tự chủ hơn trong công việc, cuộc sống. Hay công việc, cuộc sống chỉ để phục vụ cho việc tu tập mà thôi?

3.1. Tu tập để có lực tự chủ hơn trong công việc, cuộc sống.

Nếu thế, thầm xem đạo pháp chỉ là một phần để bổ túc và phục vụ cho cuộc đời. Khi tu hành, đặt tâm thế “lấy thế tục làm chủ đạo, làm đích để hướng đến” như thế thì không thể nào đạt đến giác ngộ, giải thoát. Bởi mục tiêu hướng đến là phàm tục và tất cả chỉ để hướng về phục vụ cho tiêu chí ấy thì làm sao chứng đạo được. Chưa giác ngộ thì tâm lực không đủ lớn để giải khổ. Có chăng chỉ là một sự an ủi tạm thời chứ không thể đạt được hết khổ an vui một cách trọn vẹn.

3.2. Công việc, cuộc sống chỉ để phục vụ cho việc tu tập.

Khởi đầu bằng tâm thế tu hành “Lấy giác ngộ giải thoát sanh tử cho mình và mọi người” làm đích đến. Làm việc, sinh hoạt là nhu cầu để duy trì sự sống, để có phương tiện tu học và làm lợi ích chúng sanh. Tất cả chỉ để phục vụ cho việc tu tập, giác ngộ, giải thoát. Với cách nhìn và sống như vậy thì khi làm việc cũng là lúc đang tu. Tất cả các vận hành sinh hoạt khác cũng chỉ để phục vụ cho một đích đến duy nhất là ngộ tâm, tự tại, tiêu sái. Có như thế mới đủ lực để dứt khổ, an vui mãi mãi được.

4.  ĐANG SỐNG TRONG THỂ ĐẠO CHÂN THẬT HAY VÌ VIỆC KHÁC.

Hiện nay đây, chúng ta có an yên và giác sáng ngay chỗ mình đang ngồi, đang sinh hoạt? Hay đang nghĩ đến một công việc khác cần thiết còn dang dở, phải làm?

Ở đây không bàn đến việc an trú ngay hiện tại hay thực tại. Bởi nếu thấy có một thực tại hay hiện tại để an trú thì nó đã biến thành vật bị mình thấy biết, là cái bên ngoài mình, không phải chân thật. Đồng thời, thấy biết như thế là đã ngầm phân hai, có mình đang nhận biết thực tại và thầm thầm sống về, sống theo cái hiện tại, thực tại do tâm mình thấy ra đó trong vi tế, tình thức không phát hiện ra. Như thế là đã bỏ quên mình mà thấy biết theo vật. Dù đó là vật gì đi nữa thì cũng là thứ bị mình biết, là tướng bên ngoài, không phải chân thật là chính mình một cách tuyệt đối. Cụ thể là chưa đạt đến thể đạo rốt ráo vốn tự thênh thang, trùm khắp, không ngằn mé.

An yên, sáng rỡ ngay chỗ mình đang ngồi, có nghĩa là ở bất cứ đâu, trong bất cứ thời điểm nào, chúng ta luôn khéo giác sáng, không động, công phu vẫn đang hiện tiền như thế. Theo thời gian, công phu sẽ thuần thục, đắc lực. Tự mình cảm nhận được sự tiến bộ một cách rất rõ ràng. Chính năng lực của tâm thể này mới tự cứu mình được. Nếu không như thế, nghĩ về việc mình cần phải làm, dù đó là việc gì đi nữa thì cũng bị quên mình theo vật, là nguyên nhân đưa đến mê lầm, loạn động, sanh tử, khổ đau.

5.  HẰNG NGÀY TRONG SINH HOẠT, KIỂM TRA LẠI HAI ĐIỂM.

5.1. Công phu đang hiện tiền.

Ở bất kỳ hoàn cảnh nào chúng ta cũng luôn buông thư thả lỏng một cách tự nhiên, nhìn mọi vật một cách trong lặng, không mê thì tâm tự sáng biết linh thông, không động. Cứ thế, mình đang lặng sáng, giác sáng trên mọi sinh hoạt, công việc, không mất mình. Khéo sống, sinh hoạt và làm việc như vậy là đã khéo tu, lúc nào công phu cũng đang hiện tiền.

5.2. Vượt khỏi hai bên, tiêu sái, tự tại.

a)    Nhằm hai bên để kiểm chứng công phu.

Đối với những thứ hai bên: Buồn vui, mừng giận, hợp ý và khó chịu, thích và không thích, vừa lòng hay trái ý... Thật lòng chúng ta đã vượt qua được bao nhiêu phần trăm. Nhìn vào đó để nhận biết công phu. Từ đó nỗ lực tinh tấn rèn luyện, khéo ngay chỗ những thứ hai bên đang hiện hành với mình để dụng công, chắc chắn sẽ tiến bộ theo từng ngày trông thấy. Được vậy, đạo lực sẽ tăng trưởng, cho chúng ta tiêu sái, tự tại, tùy duyên và an lạc giải thoát.

b)    Nhìn, thấy, biết, làm, hành xử... vượt khỏi hai bên.

Dùng trí tuệ để nhìn nhận mọi công việc, vấn đề, tình huống, hoàn cảnh không nằm trong hai bên.

Không sanh tâm khen chê hay nghĩ xấu về người khác. Đối với một việc chưa tốt, thay vì nghĩ xấu là chuyện thường tình, chúng ta thử có cách nào nghĩ tốt nhưng rất hợp lý hay không? Như là:

-     Có rất nhiều điều mắt thấy cũng chưa chắc đã chính xác. Thời gian sau mới vỡ òa ra.

-     Nếu được quyền lựa chọn, ai cũng sẽ chọn điều tốt, không ai chọn điều xấu cả. Vị này làm như vậy, chắc là có lý do riêng gì đó mà họ chưa tiện nói ra. Hơn nữa, mình và mọi người có thấy nghe được gì thì cũng là theo sự thấy biết và nhận định của cá nhân, chưa chắc đã chính xác. Vì thế không nên vội kết luận. Mình cũng đâu đã hoàn hảo. Giúp được gì cho họ thì giúp, không thì thôi. Tất cả chúng sanh đều sống trên phước, nghiệp và nhân duyên của mỗi người. Không ai có thể sống thay cho ai được. Nghĩ xấu chỉ là tạo thêm nghiệp cho mình và người khác.

-     Biết được việc ấy sẽ giải quyết được gì, mang lại kết quả tốt nào cho người ấy? Hay chỉ biết cho thỏa thích cái tật lắm chuyện của chúng sanh? Soi mói, phân tích chuyện tốt xấu của người khác là tập khí thị phi sâu dày của phàm phu. Nếu cứ tiếp tục như thế thì chỉ tăng thêm sự loạn động mê mờ, có hại mà không lợi ích gì.

-     Còn trong sanh tử thì không có gì có giá trị thật. Vì tất cả không cứu được mình và mọi người giải thoát khỏi khổ đau.

-     Tất cả các sai lầm đều do vô minh. Mà vô minh mê muội thì không thật. Như người ngủ mê nói mớ, tỉnh dậy tất cả đều không. Phút trước mê lầm thì sai. Giây sau tỉnh ngộ liền hết. Vô minh mê muội không thật thì sự sai trái trong đó cũng không có giá trị thật. Ngày mai tỉnh ra sẽ khác...

Khéo hài hòa giữa bi và trí, sự và lý phải được viên dung, không thiên lệch, ngăn trệ. Tu tập lâu ngày như thế sẽ có trí tuệ đặc biệt vượt khỏi phàm tình của hai bên.

*Trước mọi vấn đề, chúng ta an tịnh và thấy biết như thế nào để vượt thoát hai bên.

Ví dụ, khi được hỏi, ở đây đẹp, có cho người thân đến tập tu hay không? Nếu đáp là cho hoặc không thì đã quên mình chạy theo câu hỏi, là đã rơi vào mê mờ, mà hiện tướng cho thấy là chưa vượt khỏi hai bên của cho và không cho. Như thế chỉ là cái thấy biết của thường tình, ai cũng làm được và đang sống trong gọng kềm của hai bên ấy. Không có gì xứng đáng hay đặc biệt để cho chúng ta tu hành cả.

Ngược lại, khi được hỏi, tâm chúng ta cũng bình lặng như trước khi chưa nghe hỏi, không sanh khởi gì, nhưng tự sáng biết tất cả. Nghe xong câu hỏi, chúng ta bình thản đáp: “Chúng con không ép buộc người thân. Nhưng có nên cho mọi người đến tập tu hay không thì xin Thầy cho quý vị một lời khuyên”. Nói cũng như chưa nói gì, thấy biết đúng chân lý, hành xử thấu tình đạt lý, không kẹt hai bên. Cũng có thể tùy vào từng hoàn cảnh và câu chuyện mà uyển chuyển để có nhiều cách xử lý, nhưng điểm chính yếu ở đây là mình vẫn ở trong tự tâm lặng lẽ mà sáng biết của chính mình, không bị biến đổi. Được vậy là đã thấy biết và hành xử vượt thoát hai bên, không đánh mất bản tâm, là đang tu tập hết sức miên mật.

Một điểm quan trọng cần lưu ý là không nên ở trên niệm sanh thêm phân biệt hai bên. Bởi niệm vốn đã không thật, ở trong niệm chỉ tăng thêm mê lầm, và ở trên niệm để tư duy trong hai bên chỉ khiến chúng ta càng thêm mê, đưa đến sai lầm, đau khổ. Nếu luôn ở trong tự tâm lặng sáng để biết suốt tất cả thì vẫn thấy rõ hai bên đúng sai phải quấy một cách tỉ mỉ rõ ràng, nhưng không động thì trí tuệ lại rạng ngời và tướng thị phi cũng trong lặng, thanh tịnh, trong trẻo, không bị chúng chi phối. Sống, nhìn nhận và hành xử như thế không khác lúc ngồi tu. Tu như thế sẽ đắc lực.

6.  KẾT LUẬN.

Muốn sống đúng và tu tốt, cần thấy ra hai điều. Một là “thấy ra vấn đề”, đây là nhờ trí tuệ. Hai là “thực hiện, làm được như những gì mình thấy biết đúng đắn” phải nhờ vào định lực, nội lực của bản thân mới cho chúng ta tự chủ và sống được như những gì mình muốn. Nhưng muốn có trí tuệ sáng suốt và định lực, nội lực thâm hậu, không gì khác hơn là phải khéo dụng công tu trên mọi hoàn cảnh. Trên đây là một vài gợi ý để hành giả lấy làm cơ sở tự soi xét lại mình trong khi tu tập. Luôn kiểm điểm lại tâm qua những điều cơ bản như thế để luôn đặt mình trong công phu. Cốt yếu cũng chỉ để luôn sáng lại tâm mình chứ không phải để tâm vào những chi li khiến rơi vào tạo tác sanh diệt. Khéo léo vận dụng kiểm điểm để luôn ở trong tự thể vô tác, chắc chắn công phu sẽ đắc lực, tiến đạo.

 


 

TU TẬP CHỈ TRONG CÁI NHÌN

 

1.  TU LÀ BIẾT SỬA SAI.

Chưa phải là bậc Thánh nhơn, khi còn là phàm phu thì ai trong đời cũng có ít nhất một đôi lần phạm phải sai lầm. Có khi do chưa biết, hay do thói quen (tập khí) chi phối, không tự chủ; hoặc do mê lầm, nhất thời bất giác... đưa đến nghĩ sai, hành xử không đúng mực, sống chưa đúng.

Đức Phật dạy, thế gian có hai hạng người tôn quý: “Một là không phạm lỗi. Hai là nếu lỡ phạm lỗi thì biết ăn năn sám hối, sửa đổi, vươn lên”. Chốc trước đó vừa là phạm nhân. Phút giây sau được nhắc thức, đủ duyên, tỉnh ngộ ra, sửa đổi, sống tốt, liền trở thành người tử tế. Một tội phạm tày trời còn biết sửa sai để trở thành người tốt được, có vị còn ngộ đạo trong tíc-tắc. Huống nữa mình mới phạm phải một ít sai lầm mà không biết sửa đổi để vươn lên được hay sao!

Tàm quý (hổ thẹn) là gốc của muôn công đức lành. Mất tâm tàm quý thì công đức lành cũng mất hết. Việc ác nào cũng dám làm, sống ngông cuồng theo bản năng, sẽ gây ra nhiều tội lỗi. Và rồi khổ đau ấy chính mình phải gánh chịu. Oan uổng! Không nhất thiết phải như vậy! Chỉ cần tỉnh tâm sớm để nhìn nhận cho thật chín chắn, nghiêm túc, sẽ thấy biết một cách đúng đắn, sâu sắc, toàn diện và tích cực. Đúng và sai chỉ trong một niệm, trong một cái nhìn “nhận biết hoặc chưa biết”. Không nên biết mà cố phạm để phải khổ đau mãi. Nếu có tâm ăn năn, dám sửa đổi, làm lại từ đầu thì sai lầm nào cũng có cách cứu vãn được.

2.  CÔNG PHU TU TẬP CHỈ TRONG CÁI NHÌN.

Nhìn một cách sâu xa, nguồn gốc của mọi sai lầm đều bắt đầu từ mê mờ (vô minh). Nó khởi nguồn phát xuất từ bất giác, chợt thoáng quên mình, từ đó thấy biết theo mọi thứ bên ngoài. Thế là mê muội sanh ra sai lầm, sai lầm tăng thêm mê muội. Cứ thế chồng chất, khổ não không cùng.

Đến như khuôn phép là để tốt cho mình và mọi người. Nhưng do không biết cho nên nhìn trên sự tướng và chấp theo khuôn phép. Nhằm trên đó để phán xét người khác mà quên soi lại để sửa đổi bản thân. Lâu ngày như thế chúng ta sẽ cảm thấy tự bực bội một mình, thấy cái gì cũng không bằng lòng, căng thẳng, phiền não. Đó là đã bị khuôn phép trói buộc (câu thúc).

Tai họa sai lầm này là do cái nhìn bị sai, lo nhìn ra lao theo cảnh để soi người khác mà quên soi lại nơi mình. Hằng ngày quen bất giác, quen nhìn ra. Thấy, nghe, biết đều theo ngoại cảnh, tình huống, muôn vật mà quên phản quan, lâu ngày như thế sẽ thành thói quen. Đồng thời trong tâm càng loạn động thì chân tánh càng bị lu mờ. Khi gặp ai đó có điều sơ thất, chúng ta liền theo đó mà bực bội không chịu nổi, đem khuôn phép ra để trách cứ. Kết quả là gây thêm phiền não cho cả hai và chính mình mất đi một cơ hội để tu tập. Nếu biết phản quan, thanh tịnh, giác sáng, sẽ hay ra, không điều gì có thể làm khó mình được.

Cuộc đời vốn dĩ tương đối. Ra lệnh nhưng không được hành hết lệnh. Hành hết lệnh sẽ thất bại. Khuôn vàng thước ngọc cũng chỉ để ổn định trật tự cuộc sống nhân gian. Ngoài nhân gian ra, nó không có giá trị. Đến như Giới Luật nhà Phật cũng để ngăn quấy, dứt ác, làm thanh tịnh cho chúng sanh thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Người tu hành đạt đạo rồi thì trong tâm chứng ấy đã trọn đủ, không còn cố chấp như phàm mê. Chưa phải là bậc có trí tuệ đầy đủ để gánh vác trách nhiệm, còn là người tu hành, chúng ta nên có cái nhìn cho đúng đắn thì việc tu hành mới thanh thoát, an lạc. Với mình thì phải chặt chẽ, sít sao, kỹ lưỡng, khép mình vào kỷ cương để thanh tu, rèn luyện, dứt các tình tệ. Với người thì nên hỷ xả, độ lượng, khoan dung. Luôn tập soi sáng lại mình để tu tập, không nhìn lỗi người khác. Có vậy thì phàm tình mới mỏng dần, trí tánh thanh tịnh mới sáng soi, việc tu hành mới bớt dần lỗi lầm và lần hướng tiến đến đạo quả giác ngộ giải thoát.

Một sự thật mà ai cũng biết, đó là mọi thứ trên đời đều rỗng tuếch, tạm bợ, không có gì chắc thật. Nhưng có một điều mà ai cũng dễ mắc phải sai lầm, là thầm chấp cho nó là thật và lao theo. Để rồi, hằng ngày quên soi sáng lại chính mình, chỉ thấy biết theo ngoại duyên, đắm nhiễm, dính kẹt và phải trả giá khổ đau trong ân hận, tức tưởi, không đáng có.

3.  CÔNG PHU TU TẬP CHỈ TRONG TÂM THẾ NHÌN.

Ví dụ đến phiên được nhập thất chuyên tu, huynh A rất trân quý. Ngôi thất nằm trong vườn cây ăn trái, cạnh hầm phân. Quý thầy Tri Viên đem phân cá về hôi thối nồng nặc, đến nỗi nhức đầu. Chưa hết, huynh đệ đi làm vườn, cuốc đất, trao đổi công việc... làm động khu thiền thất, không được yên tĩnh. Trong thất, huynh A sẽ thế nào?

3.1.  Nhìn theo khuôn phép để trách cứ hoàn cảnh, mọi người.

Nếu thế, huynh A sẽ lảm nhảm một mình. Tại sao khu thiền thất mà Thầy Tri Viên lại đem phân về hôi hám ô nhiễm như thế làm sao tu? Vì sao những người làm vườn lại nói chuyện ồn ào tại khu thiền thất một cách vô ý thức như thế. Tại sao lại làm ồn ào trong khu vực chuyên tu... Kết quả tăng thêm căng thẳng, không thể công phu. Đó là do bất giác, sai từ khởi điểm của cái nhìn ban đầu, quên soi sáng lại mình mà chiếu theo hoàn cảnh bên ngoài, do đó gặt lấy kết quả là phiền não tột độ, mất tu. Người khác sai thì có thể đã sai. Nhưng cuộc đời còn đó vô vàn ngang trái, không chìu lòng người. Mong hoàn cảnh theo như ý mình, chưa bao giờ là người thông minh cả. Có khi chính cái nhìn này tự giết chết đời mình. Đang sống mà bị bất đắc chí, bất mãn, trách cứ, thấy cả bầu trời toàn u ám. Sống mà không được sống phút nào.

3.2.  Nhìn lại sự yếu kém của mình và tôn trọng đại chúng, người khác.

Khi vừa bất giác, trong lòng thấy phiền những cảnh duyên kia, huynh A liền nhận ra mình đã quá yếu kém. Ở trong thất đang là điều kiện tốt nhất cho việc hạ thủ công phu tu tập. Hơn nữa hiện tại mình đang khỏe mạnh, tất cả đều tối ưu nhất. Đối với một duyên nhỏ như thế, mình vẫn còn có quyền được lựa chọn “không thèm để ý” và tu tập được. Nhưng ngược lại, mình không chịu nổi, phiền muộn, bực bội, trách cứ, đánh mất công phu. Nếu thế, trong vòng luân hồi sanh tử sẽ còn nhiều điều mãnh liệt và dai dẳng hơn, không ai lường trước để được lựa chọn. Khi ấy, lực mình không đủ, sức khỏe và điều kiện để tu tập không như hiện nay, chúng ta sẽ đối trước sanh tử như thế nào? Có nguy hiểm hay không? Tự nhắc thức, phản quan lại chính mình để tiếp tục công phu, tâm sẽ lắng đọng, an vui. Nghe đại chúng trao đổi công việc và lao tác ngoài kia, chúng ta cảm thấy áy náy, hổ thẹn. Mình được ngồi yên trong mát để tu tập, huynh đệ phải thay mình lao tác vất vả. Tâm tâm niệm niệm đầy lòng tri ân, chúng ta sẽ nỗ lực công phu tinh tấn và miên mật hơn để được tiến bộ, xứng đáng với những gì Thầy Tổ và huynh đệ đã hy sinh cho mình.

3.3.  Sống thẳng tự tâm, tất cả liền vắng bặt, bình thường.

Người trong thất không dính đến chuyện ngoài thất. Đối trước tất cả, huynh A không sanh khởi gì. Chỉ bình thường, an nhiên, tọa thiền. Tất cả tiếng nói, mùi hôi đều trở nên trong lặng, không ngoài bản tâm vô tướng, thênh thang, sáng biết, ngập tràn lạc an. Âm thanh ngoài kia có còn hay không, cũng chỉ như tiếng gió thoảng, chim hót, lá đong đưa, giọt sương còn đọng hay đã tan biến... Tất cả chỉ là sự hiện hữu trong tự tánh chánh định chính mình, chỉ là bình thường, chưa từng sanh diệt. Lòng tràn hoan hỷ, sự lý viên dung, bi trí vẹn toàn, lòng người chan hòa, thanh thoát biết mấy! Không thích hơn sao!

4.  ĐỨNG Ở ĐÂU, NHẰM CHỖ NÀO ĐỂ THẤY?

Cùng một tình huống nhập thất như trên, nhưng tại sao có người bị phiền não, có người thì vẫn thanh tịnh? Hoặc với huynh A, trước đó thì thấy phiền não, sau đó lại được thanh tịnh?

Nếu mê, nhìn trên sự tướng bên ngoài mà đánh mất chính mình thì bị ngoại duyên chi phối, khiến cho phiền não, mất công phu. Lúc này đem khuôn phép là Khu thiền thất phải yên tĩnh để đối chiếu với tình huống đang xảy ra và bắt lỗi huynh đệ đang làm việc. Dù khuôn phép ấy là đúng, nhưng chúng ta lại bị sai trong cách nhìn cho nên mang lại phiền não, không như khuôn phép mong muốn. Chỉ giỏi “cố định phải như thế” mà chưa giỏi “linh động, không nhất thiết phải như thế mà vẫn tu được”. Bị cái chấp cột cứng, không thể chuyển được cảnh động thành thanh tịnh bằng công phu chính mình. Đây là chúng ta đã đánh mất đi một cơ hội vàng hiếm có để tự mình trắc nghiệm công phu. Hoàn cảnh vô tình đưa đẩy trong bất ngờ mới là trận chiến thật. Còn lại, tất cả những tính toán trước hoặc đã bày sẵn đều là sự giả lập trong tâm tưởng mình. Trận chiến thật mới biết nội lực mình đã mạnh hay còn yếu. Trận chiến giả định thì có thắng hay bại gì cũng chỉ là huyễn giả mà thôi. Tai hại không chỉ dừng ngang đó. Người thấy biết trách cứ như vậy còn bị tổn đức, các chướng ngại tự sanh, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống và công phu tu tập.

Nếu biết soi lại mình, sống bằng tự tánh sáng ngời để thấy biết thì mọi việc đang diễn tiến mà vẫn đang trong lặng, như như. Trí lực này sẽ giúp chúng ta làm chủ bản thân, đồng thời khéo uyển chuyển, tùy duyên, không có gì dễ dàng làm chướng ngăn mình được.

5.  KẾT LUẬN.

Giữa phố thị, nếu phiền não với dòng người, xe cộ thì lên núi rừng sẽ bực bội với vượn hú, chim kêu. Tìm đâu cho ổn nếu không phải là tâm mình. Còn nhớ Tiên nhơn Uất-đầu-lam-phất từng ngồi tu luyện trong rừng, nghe chim réo gọi khiến mất công phu. Bực tức quá, thệ nguyền kiếp sau sẽ sanh làm loài chồn bay để ăn hết chim muông cho hả giận. Thế rồi như lời nguyện ước, hết kiếp, hóa làm chồn bay, ăn giết vô số chim chóc, tạo nghiệp rồi sau đó đọa vào địa ngục. Phải chịu vô vàn hành hình khổ sở, chỉ do phân tâm chi phối bởi tiếng chim ríu rít vốn vô tình. Cũng bởi cái nhìn chưa chuẩn, chứ nào ai muốn?

Đối trước tất cả mọi tình huống, hoàn cảnh... nếu thấy còn phiền lòng thì biết trí lực của mình chưa đủ mạnh, cái nhìn chưa đầy đủ, lý sự chưa dung thông, còn bị thiên lệch, dễ rơi vào cố chấp, sanh các chướng ngại cho việc thực hành công phu. Chỉ cần đổi lại cái nhìn thì mọi việc đều được hanh thông, nhẹ nhàng, việc tu hành của chúng ta sẽ được tiến bộ, không khó.

 


 


CUỘC SỐNG VÀ CÔNG VIỆC

Thế gian là một sự vận hành chuyển động liên tục. Mỗi người có một cuộc sống riêng không ai giống ai, do đó sự vận hành cũng phong phú, đa dạng. Nhưng chung quy lại không ra ngoài hai phạm trù chính, đó là cuộc sống và công việc phục vụ cho cuộc sống ấy.

1.  XÁC ĐỊNH CUỘC SỐNG VÀ CÔNG VIỆC.

1.1.    Thế gian.

Cuộc sống là những sinh hoạt mà mỗi người yêu thích. Như nghỉ ngơi, mua sắm, đi du lịch, sống bên gia đình, bên cạnh những người thân... Mọi người thường gọi là được sống với những gì mình ưa thích.

Công việc là những việc bắt buộc phải làm để mưu sinh, duy trì cuộc sống. Cụ thể là phải đi làm các công việc để có kinh tế, phương tiện nuôi sống bản thân và gia đình.

1.2.    Trong đạo.

Cuộc sống là việc chính của sự tu hành mà mỗi hành giả cho là lý tưởng. Như là có thời gian để thỏa thích đọc học Kinh Luận, tụng kinh, tọa thiền, đi kinh hành nhẹ nhàng thanh tịnh...

Công việc là những việc phải làm trong tự viện để duy trì sinh hoạt đời sống tu hành chung. Điển hình như phải lo việc Phật sự đối nội, đối ngoại, chấp tác...

2.  NHÌN NHẬN CUỘC SỐNG VÀ CÔNG VIỆC.

Ở thế gian, mọi người đi làm thường mong tan sở để về với gia đình, đi mua sắm... Hoặc thường trông đến ngày nghỉ lễ để được đi du lịch... Trong Chùa, vào những ngày được nghỉ lao tác để chuyên tu thì cảm thấy mãn ý, an lạc. Thường ngày thì tranh thủ làm lao tác thật nhanh cho gọn việc để có thời gian đọc sách, tọa thiền...

Những mong mỏi ấy là chính đáng, không lỗi, nhưng có sai lầm trong cách nhìn nhận giữa công việc và cuộc sống. Cụ thể, nhìn nhận như thế là đã tách công việc và cuộc sống ra làm hai. Khi làm việc là lúc không được sống. Hơn nữa, vừa làm việc vừa mong hết giờ, đó là đã muốn giết chết thời gian, là tự giết chết cuộc sống của mình ngay lúc đó. Một ngày đêm 24 tiếng, có 8 tiếng đồng hồ làm việc đã bị giết chết, đồng nghĩa chúng ta đã tự giết chết sự sống của mình một phần ba của một ngày. Cộng lại một đời, chúng ta đã đánh mất đi một phần ba sự sống.

Có trông mong hay không thì hết giờ mới được tan sở. Trông mong cũng không về sớm hơn được. Thay vì mong ngóng, chúng ta nên tìm niềm vui ngay chỗ mình đang làm việc thì sẽ được sống ngay thời khắc ấy. Với người tu hành, không phải đợi đến khi tọa thiền mới tu mà ngay trên các sinh hoạt, khéo an tỉnh, giác sáng thì khi đang làm việc cũng là lúc chúng ta tu hành. Ngồi tu trong cảnh tịnh sẽ phát huy nội lực mạnh hơn, giúp cho hành giả dễ an định. Nhưng nếu chỉ có thế thì việc tu còn khiêm nhường, ít quá. Khi đi chấp tác, làm việc không tu được hay sao? Nếu hành giả khéo dụng công trên cảnh động nữa sẽ thấy sự tiến bộ rất rõ, diệu dụng phát huy đặc biệt đến bất ngờ. Mới hay ra, đạo không phải cố định ở một nơi nào đó mà thênh thang, trùm khắp.

3.  KHÉO SẮP XẾP CÔNG VIỆC ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.

3.1.  Nhàn.

Mọi người thường than vãn vì bận bịu với công việc quá cho nên không có thời gian sống cho mình. Lúc bé lam lũ, cơ cực, vất vả giúp đỡ công việc bố mẹ cho nên tôi không có tuổi thơ. Thèm có được điều kiện sống khá hơn để ít việc, có thời gian nhiều hơn cho cuộc sống nhàn hạ, thảnh thơi. Nhưng ở chiều ngược lại, có rất nhiều người không việc, dư thời gian thì thấy chán, vẫn không được nhàn. Vậy, phải như thế nào mới được nhàn? Là không việc, ít việc mà được nhàn? Hay nhiều việc mà vẫn an nhàn?

Nếu ít việc, không việc thì ai lo cho bản thân và gia đình mình? Chúng ta không thể sống như người bệnh trong khi mình đang khỏe mạnh để người khác lo cho mình một cách vô trách nhiệm với cuộc sống. Hơn nữa, những ngày được giãn cách xã hội, ở nhà có nhiều thời gian rảnh rỗi, nhưng có được nhàn rỗi hay không? Chưa hẳn có nhiều thời gian đã được nhàn. Thực tế là rất nhiều người mong ngóng dỡ bỏ lệnh giãn cách. Vừa được nới lỏng thì vé máy bay bán hết rất nhanh, nhiều nơi công cộng đông nghịt người... Nếu những ngày qua ở nhà được nhàn thì tại sao khi vừa nới lỏng lệnh giãn cách, mọi người lại túa ra ngoài một cách ồ ạt phấn khởi như vậy? Có người cho rằng vì công việc làm ăn, đây là lý do chính đáng. Nhưng những chỗ đông người lại là những điểm giải trí, du lịch chứ không phải ai cũng vì kế sinh nhai. Hoặc theo thống kê cho thấy, những ngày ở nhà rảnh rỗi thì chỉ số ly hôn rất cao. Ở Nhật Bản lại có cả những nơi đầy đủ tiện nghi dành cho những gia đình nào căng thẳng, một trong hai người tách riêng ra đến đây trú ngụ, lẩn tránh để khỏi đưa đến hậu quả tệ hại, đổ vỡ. Cho thấy, có nhiều thời gian rảnh rỗi chưa chắc đã nhàn.

Nếu cho rằng có việc mà vẫn nhàn thì phải làm sao để được nhàn? Bởi có nhiều người than vãn vì công việc mà tôi không được nhàn.

Tóm lại, chưa làm chủ thân tâm thì sống trong hoàn cảnh thế nào con người cũng khó thỏa mãn, dễ sanh nhàm chán. Chúng ta sẽ thực sự nhàn khi thân tâm đã lắng đọng, thanh tịnh, tự chủ. Nói là không việc hay có việc đều chưa rời công việc để nói, là đã can thiệp trên việc, tức đã quên mình theo vật, là đã bị rộn ràng rồi, không thể nhàn được. Muốn được an nhàn thì chỉ có hai khả năng: một là có đạo lực, trí tuệ bất động mà linh thông thì tự nhàn. Hai là bình tĩnh, dứt khoát, khéo léo sắp xếp công việc một cách có khoa học, như thế sẽ được an nhàn trong cuộc sống, được sống.

3.2.    Để được an nhàn, được sống.

a)    Có đạo lực và trí tuệ thì tự nhàn.

Muốn có đạo lực và trí tuệ chân thật bất động mà linh thông để thực sự được an nhàn thì phải quyết chí hạ thủ công phu tu tập. Đây là việc làm chính, cốt lõi, mang tính lâu dài để đạt đến sự an nhàn một cách tuyệt đối, đúng nghĩa, tâm ta tự nhàn.

b)    Bình tĩnh, dứt khoát, khéo léo sắp xếp công việc một cách có khoa học.

Muốn thế, chúng ta phải luôn bình tâm tĩnh trí trước mọi công việc, hoàn cảnh, tình huống. Ngay trên mọi hoàn cảnh, luôn giác sáng, không mê mờ. Luôn có một tư thái uyển chuyển, nhưng dứt khoát để tâm mạnh mẽ. Khéo léo sắp xếp công việc, biết tranh thủ thì sẽ có thời gian. Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Khi không thích thì con người tìm lý do, viện cớ. Khi thích thì sẽ tìm cơ hội, thời gian”. Hơn cả thích là sự quyết tâm. Nếu có quyết tâm, biết tranh thủ thì nhất định sẽ có thời gian để chúng ta tĩnh tâm, thư giãn.

Thêm nữa, đừng đánh mất thời gian sống của mình. Trước một dòng người đang xếp hàng chờ mình giải quyết, chúng ta chỉ sắp xếp công việc với người đang đối diện rồi đến người khác, không sanh tâm bực bội hoặc lo ra. Bởi không ai một mình có thể làm hết tất cả các công việc của nhân loại. Hơn nữa, trước hàng người đông đúc, ồn ào, có khi quý vị không chịu giải quyết người trước mắt mà lại tranh thủ phân bua với người từ xa. Nếu là người khéo sống, chỉ hết lòng với mọi người, tận tụy với công việc và giải quyết công việc nhanh nhất có thể đối với người đến trước, lần lượt đến người tiếp theo. Không nên vì bực dọc rồi dừng việc lại để đối thoại với người chưa đến lượt, sẽ mất thời gian, công việc không hiệu quả, có hại cho bản thân và những người liên đới.

Với người tu, khéo điều chỉnh giữa lúc chuyển đổi trạng thái từ cảnh động (làm việc, lo tổ chức) sang cảnh tĩnh (học, tọa thiền) thì lúc nào cũng nhàn và tu tập được. Cụ thể, thông thường khi đang làm việc hăng hái thì vào ngồi học hoặc ngồi thiền, chúng ta có cảm giác chưa sẵn sàng, hơi ngán. Ngược lại, vị nào giỏi ngồi học và ngồi thiền thì lười biếng làm công việc. Cho rằng vào chùa để tu chứ không phải đi làm như công nhân bốc vác. Không biết rằng, làm lao tác là một sự rèn luyện cần thiết của hành giả. Đây là yếu huyệt. Là hành giả một lòng vì đạo, muốn tu tập tiến bộ đích thực, chúng ta nên điều chỉnh tâm thái này. Khi ngồi thiền, đọc học kinh luận và chấp tác, tâm này vẫn lặng sáng đúng như chính nó, không đổi khác.

Thêm một điểm nữa, khi đang ngồi học hoặc tọa thiền tỉnh giác, lặng sáng. Hết giờ, đứng dậy đi làm công việc, chúng ta thường bỏ sót, bất giác ngay khoảnh khắc từ ngồi thanh tịnh chuyển sang sinh hoạt vận động ấy. Trong thoạt chốc đó, nếu hành giả không khéo dụng công sẽ rất dễ bỏ sót và bị quên tâm ngay lúc chuyển đổi trạng thái. Chính vì lý do này cho nên khi đang ngồi học thì tỉnh giác, nhưng vừa đứng dậy đi làm công việc thì liền bị rộn ràng, mất tự chủ. Vào thiền đường thì tâm thể rạng ngời, thanh thoát. Bước ra khỏi nơi tu tập thì bị vọng động kéo lôi. Nếu khéo chỉnh tâm để công phu miên mật thì sẽ được tiến bộ, đắc lực, cho hành giả tự tại, an nhàn.

4.  ĐỀ PHÒNG NHỮNG THÓI QUEN PHƯƠNG HẠI VỀ SAU.

4.1.    Lúc trẻ có thói quen gì, về già sẽ hiện ra một cách lẩm cẩm như thế.

Hôm nay có thói quen xét nét người khác, mai kia già không còn khả năng gì, nhưng lại hay xoi mói thiên hạ khiến họ ghét. Lúc trẻ hay nói sửa lưng mọi người, gặp cái gì cũng nói, mai này già sẽ tự càm ràm, lảm nhảm một mình vô cớ. Bây giờ thích ôn chuyện quá khứ, khi già sẽ nói mãi chuyện đời xưa. Cuộc sống thường ghét, không thích hay tâm đắc một điều gì, khi già sẽ nhắc lại mãi đến độ nói lặp. Nếu sống ưa lo ra thì về già bị cái tật lo lắng thừa thãi và tự khổ một mình. Nếu sống quá kỹ lưỡng, khúc chiết, chi ly đến nỗi chấp vào sự tướng quá mức thì về già sẽ lọ mọ xếp báo cũ, bì ny-lon... hoặc khó bằng lòng người khác. Đó chỉ là những ví dụ điển hình. Còn nhiều nữa, mỗi vị nếu tự soi xét lại bản thân sẽ nhận ra. Nếu thấy mình còn tồn tại điều gì chưa ổn thì nên kịp thời chỉnh sửa lại để không phương hại đến mai sau.

4.2.    Tỉnh giác, soi xét kỹ để sửa đổi. Không để thói quen, tập khí chi phối, phương hại sau này (Khi già và kiếp sau).

Trải qua mấy dặm thương trường,

Cuộc vui tao ngộ cuộc vương đọa đày.

Cuộc sống là một sự vận hành chuyển động liên tục. Ai cũng có những sinh hoạt và công việc nhất định. Trong những sinh hoạt và công việc hằng ngày đó, chúng ta phải khéo léo đừng để nó chi phối, tạo thành vết hằn, gây hại về sau.

Không để những sinh hoạt nơi công sở, công việc ngoài chợ hoặc phố phường khiến mình bực dọc rồi về nhà trút giận lên người thân. Không để cho nắng hạn mưa dông, trái nắng trở trời, được mùa mất giá... làm cho chúng ta khó chịu để rồi phải trở thành một người băn hăn bó hó khó ai ưa... Nếu không biết bình tâm tỉnh trí để đối diện với cuộc sống; không khéo cân bằng, chuyển hóa, bớt dính mắc trên mọi tình huống, hoàn cảnh thì cái gì cũng làm cho chúng ta bực bội được. Lâu ngày như thế sẽ tạo thành thói quen hoặc cái tật không tốt, ảnh hưởng xấu đến bản thân và nhiều người khác.

Với người tu, nếu không khéo giác sáng mà bỏ quên tự tánh, sống theo công việc thì suốt đời tu hành chỉ là một sự tạo tác, thành nghiệp để phải bị bồi hồi, hoang mang, bất ổn khi già.

5.  SỐNG CÓ ĐẠO, KHÔNG THUẬN TÌNH NGƯỜI.

5.1.  Sống bằng nhiệt huyết và trí tuệ, không theo cảm xúc.

a)    Nếu sống bằng cảm xúc, tình cảm.

Không xác định hướng đi, chỉ có thích thì làm. Hoặc xác định hướng đi theo sở thích, cảm xúc, cảm tính không rõ ràng. Hay việc ấy thích thì tôi mới làm, và chán thì tôi mới buông bỏ được. Tất cả những gì được quyết định, làm việc qua cảm nhận, cảm tính, cảm xúc… đều là lối vào đời bằng tình cảm, cảm xúc. Người sống bằng cảm xúc, tình cảm thái quá sẽ thiếu trí tuệ và chí khí mạnh mẽ, dứt khoát, sẽ rất khổ bởi trăm mối tơ lòng, khó làm nên chuyện lớn cho đời.

Đến chùa mà quý thầy không đón tiếp thì anh A bảo, thầy tu hành mà tiêu cực, vô cảm, không nghĩ đến người khác. Khi quý thầy tiếp anh A thì nhiều người khác cũng đến và muốn được gặp. Sau khi đàm đạo, ai cũng khuyên thầy nên bớt tiếp khách để giữ gìn sức khỏe. Chính quý vị muốn gặp, không cho gặp thì phiền, nhưng cũng chính quý vị ấy khuyên thầy nên bớt lại, đừng tiếp khách nhiều ảnh hưởng sức khỏe. Phải làm sao? Có nhiều vị tư vấn, thầy nên có sự lựa chọn, giới hạn lượng khách, để còn dành thời gian tu hành. Nhưng rồi lại có nhiều người khác nói, thầy tu hành mà còn thiên vị, tiếp người này, bỏ người kia. Nếu nói khéo là thầy đang bận hoặc vì lý do gì đó thì mọi người lại nói, thầy tu hành mà còn nói khéo như thế thì có khác gì dối lòng với người khác. Quý thầy thật thà, làm vừa lòng, bình đẳng hết với tất cả mọi người, ai đến cũng tiếp thì lại bị mọi người chê bai, Thầy tu kiểu gì mà ngồi tiếp khách suốt cả ngày, còn đâu thời gian để tu hành... Vậy thì quý thầy phải làm sao mới phải?

Đây là ví dụ điển hình cho lối sống theo cảm xúc, sống vì người khác một cách thái quá, đã vô tình đánh mất chính mình. Ngoài đời còn nhiều tình huống khó xử hơn nữa. Nếu sống theo cảm xúc, tình cảm thì không bao giờ có hướng xử lý trọn vẹn được. Kết quả là không những không thể làm thỏa mãn người khác mà với mình cũng không làm nên được gì.

Trong cuộc sống, có người trải qua một vài tai nạn khiến họ thiếu niềm tin với cuộc đời, từ đó dễ nghi ngờ mọi chuyện, lòng khép lại và sống vị kỷ, khép kín. Cho đến gần cuối đời mới nhận ra đã sống dối lòng với mọi người và bản thân. Quãng đời sống qua đã gây ra nhiều lỡ lầm tai hại cho mình và mọi người bởi cách sống vị kỷ, khép mình ấy. Một người khác thì quên mình mà sống vì mọi người. Cuối cùng lại nhận ra là đã đánh mất chính mình và làm hư hỏng nhiều người khác bởi lòng tốt thái quá và thiếu trí tuệ. Sống vị kỷ cũng làm khổ cho mình và người. Sống hết mình cũng chưa khỏi mọi họa ương, có khi không làm cho ai thực sự được an vui hạnh phúc. Vị kỷ hay vì người đều nhằm trên cảm xúc, tình cảm để hành xử. Mới biết, sống theo tình cảm, cảm xúc thì khó ổn. Chúng ta cần phải sống bằng nhiệt huyết và trí tuệ, bằng lòng từ bi quan tâm đến người khác một cách có trí tuệ thì sẽ tốt cho mình và mọi người.

Khi chuẩn bị thực hiện một dự án lớn hợp ý mình, chúng ta rất phấn khởi. Khi đi vào thực hiện, gặp nhiều khó khăn vất vả không còn vui nổi, khiến người mệt nhoài, không thể chịu được, con người sẽ bất lực, bỏ cuộc. Nhưng hoàn cảnh không cho phép. Nếu bỏ cuộc sẽ bị nhiều liên lụy, bắt buộc phải có trách nhiệm tiếp tục công việc, thì lại là làm được. Cho thấy, bắt đầu công việc bằng cảm xúc thích thú thì ý chí nhỏ bé, gặp khó không vượt qua được. Nhưng nếu bằng trách nhiệm, nhiệt huyết, trí tuệ thì bản lĩnh lớn hơn, khó mấy cũng không có quyền bỏ cuộc, và vượt qua.

b)  Sống bằng nhiệt huyết và trí tuệ.

Con người đi vào đời bằng nhiệt huyết và trí tuệ, người này đã xác định tầm nhìn và hướng đi chuyên nghiệp, rõ ràng. Tĩnh lặng để thấy ra vấn đề một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất, không để cảm xúc, con tim chi phối. Không phải tôi làm theo sở thích mà phải xác định việc ấy cần làm thì mình phải có trách nhiệm thực hiện. Điều vô nghĩa, phi đạo đức thì dù có hấp dẫn đến đâu vẫn thấy nó là không cần thiết. Suy nghĩ và hành động bỏ ngoài cảm xúc của thích và không thích mà phải xác định sự cần thiết cho đạo, cho đời.

Tôi đến chùa, đằng sau những ấn tượng thanh thoát ấy còn gì nữa, hay chỉ có thế? Không vội phán đoán mọi việc qua bản ngã nhỏ nhoi thấp hèn. Bỏ ngoài những cá nhân hoặc chi tiết đã khiến mình hài lòng hay khó chịu. Đừng mong quý thầy làm hài lòng mình, bởi như thế thầy sẽ thuận theo phàm tình của chúng sanh, chúng ta mất cơ hội học đạo giác ngộ giải thoát. Không mong huynh đệ cùng tu phải tốt với mình, nếu vậy sẽ khiến cho bản thân yếu hèn. Cần có một chút cầu thị, chịu khó và nỗ lực rèn luyện để tìm tòi bằng nhiệt huyết và trí tuệ, chúng ta mới có cơ hội học hỏi Phật pháp, nhận ra trí tuệ Phật. Đây là yếu tố tiên quyết để giúp con người miễn nhiễm, đạt được an lạc giải thoát thực sự, chứ không chỉ nằm trên khẩu hiệu hoặc lý thuyết suông.

c)  Cảm nhận giá trị.

Ngày Tết, Thiền viện có được một số kinh sách do Phật tử ấn tống để biếu tặng du khách lễ Phật đầu năm. Xem qua, cảm kích nhiều giá trị từ cuốn sách mang lại, có vị khách hỏi thăm về việc tặng sách miễn phí, một Thầy đáp: “Ở chùa là thế mà, chỉ cho đi chứ không nhận lại… Khách thỉnh hết rồi thì chúng tôi tiếp tục mang ra thêm, cho đến hết sách thì thôi”.(Trích từ bài viết “Lên cõi thiền… thỉnh sách” của Nhật Lam, www.motthegioi.vn). Câu trả lời không sai với tinh thần vô ngã vị tha của nhà Phật. Nhưng lại là cách trả lời của người đang ở mức cảm nhận đạo Phật qua cảm khái, qua lòng từ bi chứ chưa ngộ sâu trí tuệ mà đức Phật muốn chỉ. Nếu là người khởi đầu và luôn sống bằng nhiệt huyết và trí tuệ, sẽ có câu trả lời khác: “Từ bản thân mình đã từng trải qua, chúng tôi nhận thấy con người khổ là do mê lầm, chưa nhận ra lẽ thật. Có khi chỉ vì một điều rất bé nhỏ, nhưng trong nhất thời chưa kịp tỉnh ra cho nên trong lòng u uẩn, phải chịu khổ đau không đáng có. Trong những tập sách này là những gợi ý hoặc chỉ ra nhiều điều. Nếu ai hữu duyên đọc được, trúng chỗ mình đang vướng kẹt, bầu trời u ám được vén lên, mọi sai lầm tiêu tan, hết khổ. Cảm từ giá trị đó, cho nên chúng tôi cố gắng làm hết sức trong khả năng mình có được”. Cách trả lời có khác, bởi nó mang hơi hướm, mùi vị của trí tuệ thấy ra giá trị của vấn đề và lòng nhiệt huyết muốn mọi người cùng được thừa hưởng. Chỉ là một ví dụ nhỏ, nhưng đã thấy sự khác biệt rõ nét giữa trí tuệ và cảm xúc. Huống nữa cả một đời, nếu sống bằng nhiệt huyết và trí tuệ sẽ cảm nhận được nhiều giá trị đặc biệt đến dường nào!

5.2.  Có đạo, không thuận tình người.

Tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm soạn được vài chương sớ giải về Luận Đại Thừa Khởi Tín, đến hỏi Thiền sư Vô Trụ, có thể được gọi là xứng hợp Phật pháp chăng? Sư dẫn một đoạn trong luận ấy và bảo: “Tướng quân sớ giải là kẹt nơi tướng ngôn thuyết, kẹt nơi tướng danh tự, kẹt nơi tướng tâm duyên. Đã kẹt nơi mỗi mỗi tướng, sao được gọi là Phật pháp?”.

Tướng Công đảnh lễ và thưa: “Đệ tử cũng từng hỏi các vị Đại đức trong Triều, đều khen đệ tử là chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết những vị ấy chỉ thuận theo tình người. Nay Thầy theo lý mà giải nói hợp với pháp tâm địa, đúng thật là chân lý chẳng thể nghĩ bàn”.

Khen sai là giặc, bởi khiến cho chúng ta lầm tưởng mình hay thật rồi ngủ quên trong mê lầm. Chê đúng là thầy, vì dám chỉ thẳng những chỗ còn khiếm khuyết để mình có cơ hội sửa đổi, vươn lên. Cho thấy, nếu thuận tình người thì chỉ có khả năng làm vừa lòng người khác, là được phàm tình, nhưng mất đạo. Nên sống có đạo thì mới cứu được mình và nhiều người được giác ngộ giải thoát. Thuận theo tình người thì chỉ làm khổ cả hai.

Với người tu hành thì việc này lại cần phải nghiêm túc hơn. Trong kinh Di Giáo, đức Phật dạy: “Những việc như luyện chú thuật, thuốc tiên; giao hảo với người sang trọng, khinh thường kẻ thân cận gần gũi đều không nên làm. Phải tự mình luôn giữ chánh niệm, tâm ngay thẳng cầu thoát sanh tử”.

Phần đông con người thường có tính hiếu kỳ do đó thích những gì huyền hoặc hơn là thực tế. Đồng thời có tật lười biếng nên muốn có phép mầu để giải quyết mọi chuyện cho khỏe, hơn là vận động tự thân. Những việc luyện chú thuật, thuốc tiên sẽ khiến cho nhiều người cảm thấy hấp dẫn, ưa thích. Nhưng những việc ấy chỉ làm huyễn hoặc, mê lầm người, không giải quyết được tận gốc khổ. Do đó, đức Phật khuyên người xuất gia không nên thuận theo tình người để làm những việc như thế. Phải sống có đạo. Cụ thể Phật dạy, không nên giao hảo với người sang trọng, khinh thường kẻ thân cận gần gũi. Nghĩa là không nên tham đắm chức quyền, danh vọng, địa vị, tài sản để tìm đến giao hảo nịnh nọt với người giàu sang, quyền lực, lấy đó làm thế mạnh rồi trở về ngã mạn, khinh thường chúng Tăng. Phật dạy phải nên tự mình luôn giữ chánh niệm, tâm ngay thẳng cầu thoát sanh tử. Trước lúc sắp vào Niết-bàn, đức Phật vẫn còn đinh ninh căn dặn đệ tử những điều thiết yếu như thế. Mới thấy, việc sống có đạo, không thuận tình người quan trọng đến mức nào.

6.  KHÔNG KẸT TRÊN TƯỚNG.

Nguyên soái Lý Thất Ca hỏi Đại sĩ Hải Vân:

- Ông đã làm tăng, vậy thuộc thiền hay giáo?

Sư đáp:

-  Thiền và giáo là lông và cánh của tăng, như đất nước dùng người phải gồm cả văn và võ.

Lý Thất Ca nói:

- Đúng rồi, nhưng ông theo bên nào?

Sư nói:

- Chẳng theo cả hai.

Lý Thất Ca hỏi tiếp:

- Vậy ông là gì?

Sư nói:

- Thầy chùa.

Mới vào đạo, trước tiên cần học thông Kinh, Luật, Luận để ứng dụng vào đời sống tu hành. Nếu không học hiểu để thấu suốt lời Phật, ý Tổ thì nương vào đâu để tu tập? Tu như thế chỉ là tu mù, rất dễ bị sai lạc. Nếu không tham thiền, làm sao đạt định, phát huy trí tuệ vô lậu, được tự tại giải thoát? Cho nên Thiền và giáo là điều kiện cần và đủ để hành giả tu hành đạt đến giác ngộ, giải thoát. Học giáo để thông lý, tham thiền để ngộ tâm; nói theo giai thoại trên, tất cả để làm nên một vị Thầy chùa (tu sĩ đạo Phật).

Khi đạt đến rốt ráo viên mãn, đạt đến chỗ cốt lõi chính yếu mà thiền và giáo muốn chỉ thì không còn kẹt trên tướng ngôn thuyết của giáo, không trệ nơi cơ của thiền. Thiền và giáo đã làm nên một vị Thầy chùa đúng nghĩa, thực sự.

Lúc này từ tâm tánh, hành giả hay tùy cơ lưu xuất cơ thiền để khai thị thiền giả, tùy thời thuyết giáo để hóa độ chúng sanh. Và vị Thầy chùa lúc này đã đạt đến rốt ráo viên mãn trọn vẹn. Mất hút các tướng, trở lại như xưa, tất cả đều như cũ mà hay linh hoạt, tự tại, tươi mới. Đến đây mới thừa đương được việc lớn của Phật Tổ, đem ánh sáng Phật pháp soi rọi vào đời để cứu khổ, ban vui cho tất cả chúng sanh. Đạt đến rốt ráo viên mãn như thế là do sự lý dung thông, không kẹt trên bất kỳ hình tướng nào dù đó là tướng của pháp, của thiền hay là một sự chứng đắc trong công phu tu tập.

7.  TẤT CẢ HIỆN THÀNH.

Thiền sư Văn Ích Pháp Nhãn trình kiến giải, nói đạo lý hơn một tháng, nhưng vẫn bị Thiền sư Quế Sâm bảo:

- Phật pháp không phải thế ấy.

Cuối cùng, Sư thưa:

- Con đã hết lời cùng lý rồi.

Quế Sâm bảo:

- Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành.

Qua câu nói ấy, Sư liền đại ngộ.

Bặt cả tâm và cảnh, thể và dụng, sự và lý... Lúc này chỉ là bình thường, bất động, nhưng sáng ngời, linh thông đến chủ động. Tất cả vẫn như xưa cũ mà không một vết mê, không có gì chẳng phải là Phật pháp. Do đó nói: “Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành”.

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Duy Chánh:

- Thầy lấy danh là Thiền sư sao không nói thiền?

Sư đáp:

- Ngày đêm nhờ vạn tượng diễn bày mà thôi. Ngôn ngữ có gián đoạn, mà pháp này vô tận, nên gọi là Tạo hóa vô tận tạng.

Đói thì ăn, mệt thì ngủ, có việc thì làm, không việc thì cũng chỉ có thế, mất hút tướng hình. Cho đến chim hót, suối reo, mây bay, nước chảy, hoặc đến cả phố thị đông người... chỗ nào thiếu vắng Phật pháp? Sao không chịu nhận mà còn đòi nói thêm gì? Thiền sư Vân Nham Đàm Thạnh bảo ngài Đạo Ngô Viên Trí: “Nói tột lời nói cũng chỉ nói được tám phần”, phần còn lại mỗi người phải tự nhận. Ngôn ngữ trần gian có giới hạn, pháp thật tướng này thì vô tướng, thênh thang, không ngằn mé, làm sao nói đến được. Tạo hóa, muôn vật đã diễn bày vô tận vô biên đủ cả rồi, cho nên gọi là tạo hóa vô tận tạng.

Chư Tổ nói: “Cho đến tường vách ngói gạch, không cái gì chẳng thuyết pháp. Cho nên Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo; Huyền Sa bảo yến hót là bàn sâu thật tướng. Thế thì cả quả đất đều là cửa ngộ, cái gì chẳng phải đạo này?”.

Ngài Sơn Am nói: “Mới tin việc này chẳng phải ở trên lời nói. Đến như gió động, bụi dấy, chim lượn, mây bay thảy đều là chỗ đẩy người vào, nhưng tự là ngay mặt lầm qua”.

Mỗi mỗi những gì đang đối diện, quanh ta, đều đang tuyên thuyết diệu pháp. Chỉ cần nhận lại liền xong, nào có thiếu vắng bao giờ!

8.  ĐỨC HẠNH VÀ TRÍ TUỆ.

Đức Phật là đấng lưỡng túc tôn, hay còn được mọi người tôn xưng là bậc phước trí nhị nghiêm, phước đức và trí tuệ tròn đủ, không thiên lệch, thiếu khuyết. Hành giả tu hành muốn thành tựu Phật đạo thì phải có trí tuệ và đức hạnh vẹn toàn.

Thông thường người hiền lành thì dễ thiên về sự, kẹt trên tướng, trí tuệ không được cao vót, dễ rơi vào các công việc. Ngược lại, người có trí tuệ thì dễ bị thiên về lý, bỏ sót các hạnh khác, dễ sanh các chướng ngại trong việc tiến đạo. Song song với những gì đã sẵn từ những đời trước, hiện tại hành giả phải cẩn mật trong việc tu tập và đời sống thì mới dung thông cả hai, không bị kém khuyết.

Đôi khi sống có vẻ cao thượng, nhưng có biết huynh đệ bên cạnh đang bị khó khăn gì trong đời sống tu tập hay không. Bàn thiền nói đạo thì cao tột, nhưng có bao giờ nấu một bát cháo cho huynh đệ cùng tu đang bị ốm? Đạo nghiệp thành tựu rực rỡ, nhưng có làm được một việc bình dị, bình thường như rửa bát, quét nhà, nấu cơm... Hoặc theo chiều ngược lại, hiền lành, đức hạnh, tham gia thời khóa nghiêm túc, nhưng có cảm thông được huynh đệ nói lý mà thiếu tu hay không? Ngoan hiền, chất phát, tận tụy với tất cả các công hạnh, nhưng có mặc cảm, tự ty khi thấy mình không theo kịp huynh đệ? Và còn nhiều nữa. Tất cả đều do bị thiên lệch một phía mà có ra. Không phải là lỗi, do lực tu chưa đủ cho nên tạm thời phạm phải như vậy. Nhận ra, nỗ lực công phu thì có ngày cũng đạt đến viên dung, rốt ráo, viên mãn.

Chí khí chất ngất trời xanh, trí tuệ thấu triệt bổn tánh, nhưng đức thì khiêm cung, hạnh thì không hề trái hay bỏ một pháp lành nào. Sống, tu và hành xử như thế, lý sự dung thông, trí tuệ và đức hạnh kiêm toàn thì đạo giác ngộ mới hiển hiện, mới hay vào đời giáo hóa làm lợi ích chúng sanh.

9.  KẾT LUẬN.

Cuối cùng, cuộc sống là gì, công việc là gì? Nếu còn trả lời phân hai thì chúng ta không có được một cuộc sống trọn vẹn. Phải thấy rõ, còn hít thở là còn sống. Làm công việc phục vụ cho cuộc sống, cũng là đang sống. Cuộc sống và công việc không còn phân hai, không khác. Với người tu hành thì luôn tỉnh giác, tâm mình luôn có mặt trên mọi sinh hoạt thì sống là tu, tu là sống. Cuộc sống, công việc và sự tu hành không còn khác biệt. Chỉ một con người giác ngộ này thôi, có ai khác vào trong đó đâu mà bảo là đồng hay khác?

Dù người có căn cơ cao hay thấp, đã có cách sống, có phương pháp hành trì hay không còn nương vào bất kỳ phương pháp nào nữa, mỗi mỗi đều đã nêu khái quát. Chiếu theo những gợi ý vừa nêu trên để soi xét kiểm điểm công phu tu tập, mỗi hành giả sẽ tự nhận ra, tự sống, tự mình tu tập, thấu suốt và tự thấy ra việc của chính mình như người sáng mắt nhìn vật trong lòng bàn tay, sẽ được tiến đạo.

 



LỜI PHẬT CHỈ MỘT

CAO THẤP TRONG CÁI NHÌN

 1.  LỜI PHẬT DẠY.

Xưa kia đức Phật dạy thật đơn giản, chỉ vài lời mà nhiều người tu hành được đắc đạo. Hiện nay pháp có nhiều là do cái nhìn của người tu học Phật. Một trong những bài Kinh được nhiều người quan tâm đó là Tứ Niệm Xứ. Đây có thể nói là bài Kinh đức Phật nói về phương pháp tu hành căn bản của Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam truyền nói riêng. Nếu đọc kỹ và tóm tắt lại một cách thật ngắn gọn, chúng ta sẽ thấy tựu trung bài kinh này đức Phật chỉ nhấn mạnh các ý sau: “Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ (Thân, thọ, tâm, pháp). ...Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”.

Cũng là những người đang tu học Phật, chúng ta có cách nhìn như thế nào về những lời đức Phật đã chỉ dạy để ứng dụng vào công phu tu tập, đạt đến rốt ráo viên mãn yếu diệu Ngài muốn chỉ bày cho chúng ta.

2.  Ý CHỈ ĐỨC PHẬT MUỐN CHỈ DẠY CHÚNG TA ĐIỀU GÌ?

2.1.  Quả Chứng: Kết quả khi đã đạt đến đích (yếu diệu) mà đức Phật muốn chỉ dạy:Đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.

2.2.  Phương pháp dụng công (hành trì): Đó là Bốn Niệm xứ (Thân, thọ, tâm, pháp). ...Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy.

2.3.  Nhằm hướng đến, đạt đến: Với hy vọng hướng đến.

2.4.  Đích (cái ngưỡng) cần đạt đến trước tiên (NHÂN TU): Chánh trí, chánh niệm.

2.5.  Tác dụng khi đã đạt đến đích (cái ngưỡng đầu tiên) mà đức Phật đã dạy: Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.

3.  TỐI THIỂU CÓ BAO NHIÊU CÁCH NHÌN VÀ THỰC HÀNH QUA LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT?

3.1.  Vừa nghe, liền nhắm ngay đến phương pháp dụng công để thực hiện, quên quan tâm đến vế “Với hy vọng đạt đến” là gì.

Cụ thể, chỉ để tâm chăm chú vào một phần lời dạy của đức Phật để triển khai và thực hành công phu: “Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy”; mà quên để ý đến vế sau Phật muốn chỉ là gì.

3.2.  Vừa nghe, liền nhắm ngay phương pháp dụng công để thực hiện, nhưng có quan tâm đến vế “Với hy vọng đạt đến” để hướng tiến tu tập. Như đi mà biết nhắm đến hướng để đi, nhưng ở đây vẫn chưa tỏ rõ (chưa tỏ sáng) đích đến.

Cụ thể là vị này cũng chăm chú vào để triển khai và thực hành công phu: “Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy”. Đồng thời có để ý đến phần: “Với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm”. Nhưng vẫn chưa tỏ rõ, nhận ra: “Chánh trí, chánh niệm” một cách rốt ráo ngay chính mình hiện nay đây là gì. Bởi nếu đã tỏ rõ, hay ra và xác quyết rõ ràng rồi thì sống ngay đó là đã đúng yếu chỉ đức Phật muốn chỉ bày, là đang tu hành. Không còn phải quán thân, thọ, tâm, pháp như người sơ cơ nữa.

3.3.  Nghe lời Phật dạy, liền thấu suốt đến chỗ rốt ráo tột cùng mà đức Phật muốn chỉ bày là gì. Chính là phần “Cái đích cần đạt đến là gì?” trong lời dạy của đức Phật.

Là người có căn cơ lanh lợi, vừa nghe lời Phật dạy, liền tỏ ngộ ngay đích mà Phật muốn chỉ bày, đó là: “Chánh trí, chánh niệm”. Là đã đạt đến yếu chỉ, nhận ra chỗ rốt ráo đức Phật muốn chỉ bày cho chúng ta hướng đến. Ngay đó là nhân tu. Sống ngay đó là chân chánh tu hành, không rơi vào tạo tác sanh diệt gì khác.

Như vậy, điều then chốt là chúng ta chỉ cần xác định để nhận ra đích đến ở đây là “Chánh trí, chánh niệm”, thì sẽ nhận ra được ý chỉ cốt lõi mà đức Phật muốn chỉ bày và hướng tiến cho mỗi người. Nhận ra như vậy là người khéo biết cách học Phật.

a)    Chánh trí.

Đây là phần thuộc về kết quả khi hành giả đã đạt đến. Đã là kết quả thì nghĩa của nó phải rốt ráo chứ không thể là những định nghĩa còn trên đường quán chiếu, dụng công. Do đó, chánh trí ở đây là trí tuệ không còn khuyết, lệch hoặc sai, mà là chỉ cho trí tuệ rốt ráo chân thật.

Cụ thể, thử tạm quên thân này, tạm buông tất cả hoàn cảnh chung quanh, cho đến thử buông mọi suy nghĩ trong chốc lát. Khi tất cả đã buông sạch, lắng xuống, sạch trọi không còn gì, có gió thoảng qua, chúng ta liền biết mát, nghe gọi liền dạ... Tất cả đều lặng trong và thấy nghe như nhiên, không cần có tác ý động niệm. Cái bản thể sạch trong sáng biết vô ngại này chính là trí tuệ chân thật chính mình. Bởi không phải từ ngoài mang vào và cũng không thể bỏ đi đâu được, nó luôn sẵn đó nơi mỗi chúng ta. Khi bị áp lực trong cuộc sống, căng thẳng đến nỗi không thể tiếp tục công việc. Nhưng phút chốc ngồi lại, tạm buông xuống hết tất cả, tâm liền được hồi phục, buông thư, bắt đầu lại việc làm của mình sẽ rất hiệu quả. Chỉ mới thử trong chốc lát cũng đã cảm nhận được điều đặc biệt này. Với người tu hành đạt ngộ, sẽ cảm nhận nhiều lực dụng bất tư nghì không thể tả xiết.

Những gì buông xuống được thì đều là tạm bợ, huyễn hóa. Cái không thể nào buông, cái đó mới chính thực là mình. Khi buông xuống hết tất cả sạch sành sanh rồi, nhưng vẫn còn đây một cái sáng biết rạng ngời. Cái ấy vô tướng, không động, nhưng hằng thấy biết rành rẽ, rõ ràng, buông không được, bỏ không xong. Đó mới là cái chân thật, là thể tánh hay còn gọi là trí tuệ vô sư chính mình. Trí tuệ vô tướng sẵn tự sáng biết linh thông đến chủ động mà bất động này mới là trí tuệ rốt ráo chân thật, là Chánh trí.

b)    Chánh niệm.

Nguyên văn lời đức Phật dạy: “Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm”. Chúng ta thấy hai vế đức Phật nhắc đến chánh niệm: “Vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến ..., chánh niệm”. Thử thay đổi chữ “Chánh niệm” trên bằng vị trí hiện tại mình đang ngồi nghỉ, ví dụ như cái thất chẳng hạn, sẽ thấy: “Tôi đang an trú ở trong cái thất của tôi với hy vọng mong rằng sẽ đi đến cái thất của tôi”. Không ai nói như vậy cả. Và đối với “chánh niệm” ở đây cũng vậy. Chắc chắn không phải đức Phật nói ra với nghĩa trùng lặp vô lý như thế. Cho nên chánh niệm tuy là một từ, nhưng theo dụng ý trong ngữ cảnh đức Phật dạy, cho chúng ta nhận ra được, nó có hai phần, mang hai ý nghĩa khác nhau.

b1) “Chánh niệm” ở phần đầu là đức Phật dạy cách tu. “Vị ấy an trú chánh niệm như vậy” là nói đến phương pháp dụng công, còn trong quá trình hạ thủ công phu tu tập. Do đó, chữ chánh niệm ở đây có nghĩa là tỉnh giác, không thất niệm, không bất giác.

b2)Chánh niệm” ở phần sau (vế sau) là đức Phật nói đến kết quả sau khi thực hành công phu và đạt đến đích. Cụ thể Phật nói: “Với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm”. Do vậy, nghĩa của từ “Chánh niệm” ở đây sẽ là kết quả của việc dụng công từ “Chánh niệm” ở trên là tỉnh giác, không thất niệm, bất giác. Mà đạt đến rốt ráo của không thất niệm, hoàn toàn không còn bất giác, luôn luôn hằng tỉnh giác khi và chỉ khi hành giả đã đạt đến tâm thể vốn vô niệm, nhưng sáng biết rõ ràng, không rơi vào cơ lặng yên của không tịch. Cho nên, nghĩa của Chánh niệm rốt ráo ở đây là Vô niệm. Chánh niệm là vô niệm.

3.4.  Tóm lại.

Ba phần cao và thấp như trên là do căn cơ của từng người học mà có ra, chứ không phải từ pháp của đức Phật. Và vì là do căn cơ của con người, có ra từ con người cho nên nó là một sự thật hiển nhiên đang hiện hữu giữa cuộc sống tu tập của nhiều người mà ai cũng có thể nhận thấy. Đồng thời căn cơ chúng sanh có vô vàn sai biệt cho nên cách nhìn và nhận hiểu về lời Phật dạy cũng còn vô vàn khác nhau, tùy theo cái thấy sâu cạn của mỗi người. Ba cách nhìn trên chỉ là tóm tắt một cách cô đọng và ngắn gọn nhất có thể mà thôi.

4.  CAO THẤP TRONG MỘT CÁCH NHÌN.

Trong Ngữ Lục Vấn Đáp Môn Hạ, vua Trần Thái Tông nói:

Mưa xuân không cao thấp,

Cành hoa có ngắn dài.

Mưa rơi, chỉ một mực rơi xuống đất. Nhưng cành hoa dài thì hứng được mưa ở độ cao, nhanh hơn; còn với cành hoa ngắn thì sẽ chạm được mưa ở chỗ thấp, cấp độ sẽ thấp và chậm hơn. Mưa chỉ có vậy, thấp hay cao là bởi cành hoa có ngắn và dài không đồng đều.

Cũng vậy, lời dạy đức Phật chỉ có một, nhưng do căn cơ chúng sanh có cao thấp, công phu của mỗi hành giả có sâu cạn khác nhau, cho nên cách nhìn cũng theo đó mà có cao và thấp không đồng. Ví như quán sổ tức (đếm hơi thở) là pháp căn bản cho người sơ cơ mới thực hành Thiền. Cũng với hành giả mới vào Thiền, do căn cơ lanh lợi nhận ra chân tâm cho nên vị này cũng đếm và biết rõ hơi thở, nhưng không phải biết theo, biết về hơi thở như những vị khác, mà tâm tự hiện tiền. Hơi thở, thân này, các cảnh chung quanh đều trở nên trong lặng, rõ ràng, không can hệ đến nhau. Cho thấy, cùng trong một pháp quán sổ tức, nhưng cao thấp là do căn cơ mỗi người, còn pháp Phật thì vẫn vậy, vượt ngoài phân biệt phàm tình cao thấp.

5.  KIỂM NGHIỆM.

5.1.  Quả chứng:Kết quả khi đã đạt đến đích (yếu diệu) mà đức Phật muốn chỉ dạy:

Kết quả, đích đến đã đạt được có tác dụng đúng như yếu chỉ Phật dạy: Khi đạt đến Chánh trí, chánh niệm” như vừa nêu trên, sẽ “Đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”.Kiểm nghiệm cụ thể:

Đã chứng ngộ và sống bằng trí tuệ vô sư, tánh thể này vắng bặt nhưng giác sáng trùm khắp. Trong ấy vốn không một vật, trong ngần, không nhơ bợn, khiến cho hành giả tự không còn dính mắc. Tự mình thấy rõ, rất khế hợp với tính chất đức Phật đã nói: “Đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh”.

Sống bằng tâm thể này, bóng dáng sầu não không còn. Diệu lực của định tuệ trong tánh thể ấy khiến cho hành giả tự vượt thoát, tất cả không can hệ. Những gì có thể làm cho chúng sanh khổ ưu, lúc này không còn đủ giá trị chi phối. Bởi lực của tâm này đối diện với bất kỳ hoàn cảnh hay tình huống nào, cũng chỉ như như, không động mà hằng sáng biết rõ ràng, không sai lầm, xen lẫn. Như thế là đã đúng với lời Phật dạy: “Vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu”.

Sạch hết tất cả, không còn dấu vết mà hằng sáng rỡ, lặng trong. Không có tướng của tâm, không có thức phân biệt cảnh mà vẫn rõ ràng thường biết, không động. Sống trọn vẹn bằng trí tuệ rốt ráo như thế là đã đúng với lời Phật dạy: “Thành tựu chánh trí”.

Muốn thành tựu đạo quả Niết-bàn vô sanh thì phải bắt đầu từ nhân vô sanh để tu tập. Cần nhận ra và sống thẳng bằng bản thể vô sanh ấy thì mới có ngày chứng ngộ Niết-bàn mà chư Phật đã thành tựu. Và người đã thể nhận trí tuệ vô sư (Chánh trí), sống bằng tâm thể sáng trong rõ ràng thường biết kia chính là đã ngộ ra và sống được bằng nhân vô sanh. Sống ngay đó là chân thật tu hành. Và tu hành như thế mới đạt đến cứu cánh Niết-bàn mà đức Phật đã dạy: “Chứng ngộ Niết-bàn”.

5.2.  Tác dụng khi đã đạt đến đích (cái ngưỡng đầu tiên) mà đức Phật đã dạy.

Khi đạt ngộ và sống bằng trí tuệ vô sư, hành giả dễ dàng tự thấy ra rất rõ những tác dụng (diệu dụng) đúng với lời Phật đã dạy:“Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”.

Trí tuệ vô sư (chánh trí) hay tâm thể nơi mỗi chúng ta, trong nhà thiền còn gọi là “Đạo nhơn vô y”. Tức là hằng sống bằng vị đạo nhơn không nương tựa bất cứ gì, không làm bạn cùng muôn pháp. Không phải đợi có cảnh vật mới thấy nghe hiểu biết. Hằng ngày thấy, nghe, biết khắp mà rõ ràng là đang tự sáng biết, chứ không phải chú tâm biết về, biết theo mọi vật bên ngoài. Người sống về bằng chánh trí là hằng tự sáng biết như thế thì nào có nương tựa gì? Sống được như vậy là đã đúng với giá trị, tác dụng đức Phật đã nêu rõ: “Vị ấy sống không nương tựa”.

Bản thể ấy xưa nay vốn không một vật, nhưng hay liễu biệt rõ ràng. Không còn khởi ý phân biệt, thấy biết như thị. Thấy biết vượt cả căn và cảnh, không còn thức để bị phan duyên, dính mắc. Dính mắc đã tự không thì chấp trước làm sao có được. Hành giả đã đạt ngộ và sống như thế, sẽ tự mình thấy ra rất rõ ràng diệu dụng đức Phật đã dạy ngay sức sống chính mình: “Vị ấy sống ..., không chấp trước một vật gì trên đời”.

6.  CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT LÀ GÌ?

Văn Kinh đức Phật đã nhấn mạnh: “Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ (Thân, thọ, tâm, pháp). ...Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”. Vậy con đường độc nhất mà đức Phật muốn chỉ cho chúng ta là gì?

6.1.    Giả sử: “Đó là Bốn Niệm xứ (Thân, thọ, tâm, pháp). ...Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị ấy an trú chánh niệm như vậy”.

Nếu pháp độc nhất là Tứ Niệm Xứ thì tại sao Phật cũng có nói về pháp Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên...? Nếu con đường độc nhất là Tứ Niệm Xứ thì đối với Tứ Đế thế nào? Song song với pháp Tứ Niệm Xứ, đức Phật còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các pháp khác như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên… Vậy thì pháp độc nhất đó là gì? Ở đây cần nhận ra, lời Phật nói là chân lý, đức Phật nói ra luôn chính xác, lo-gic, nhưng còn có chỗ phải suy nghĩ là do chúng ta tu chưa thông, thấy chưa tới.

6.2.     “Với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm”. Chính là đạt đến nhân tu.

Nghe Phật dạy như trên, chúng ta liền nhận thẳng đến chỗ đức Phật muốn chỉ: “Với hy vọng hướng đến” đó là: “Chánh trí, chánh niệm.”. Đạt đến Chánh trí, chánh niệm một cách rốt ráo như đã nêu ở trên là trở lại tánh thể vô sanh, tánh này bất sanh bất diệt, là nhân tu vô sanh. Bằng nhân vô sanh để sống và tu hành thì mới đạt đến quả vị vô sanh mà chư Phật đã thành đạo. Không thể từ nhân sanh diệt mà thành tựu được quả vị vô sanh. Đây là con đường duy nhất, không thể còn con đường nào khác, do đó đức Phật nói: “Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”.Như đã phân tích ở trên, hành giả đã sống về bằng tánh thể vô sanh này thì tất cả diệu dụng đức Phật vừa nêu đều đầy đủ trong ấy.

Gọi là con đường độc nhất, bởi tất cả các pháp khác đều quy về trong con đường này. Chúng sanh có nhiều căn cơ, nhiều tâm bệnh do đó Phật nói nhiều pháp phù hợp để đối trị. Nhưng tất cả đều quy về một. Đó là dù cho hành giả tu hành pháp môn nào đi nữa thì cuối cùng cũng phải đạt đến nhân vô sanh là “Chánh trí, chánh niệm” một cách tuyệt đối, rốt ráo như đã nói rõ ở trên, đó là thấy đạo. Ngay đó mà tu hành thì mới thành tựu viên mãn Phật đạo được.

Các pháp Phật dạy đều là phương tiện, là con đường để đi đến cứu cánh Niết-bàn. Mà mốc đầu tiên hành giả tu tập các pháp sẽ đạt đến là tánh thể vô sanh (là kết quả chánh trí, chánh niệm đức Phật đã dạy). Lúc này, sống thẳng đó là chân thật tu hành, công viên quả mãn sẽ viên thành Phật đạo. Như thế mới thỏa mãn với ý nghĩa là “con đường độc nhất” đối với tất cả các pháp tu mà đức Phật đã dạy.

Cho thấy, con đường độc nhất là nơi tất cả các con đường cùng gặp nhau, là duy nhất một thượng vị giác ngộ giải thoát, chứ không phải chỉ là một pháp nào đó. Cội nguồn giác ngộ là tâm tánh mỗi người. Khi đã nhận ra, từ đây cho hành giả thấy biết các pháp đúng như thật; là thấy biết giác ngộ. Diệu lực của tự tánh này cho hành giả vượt thoát tất cả, là giải thoát. Sống thẳng bằng tánh này là tu hành. Khi viên mãn, sẽ thành Phật. Đây đúng nghĩa là con đường độc nhất, bởi chỉ có một hướng duy nhất này đạt đến Phật đạo. Còn lại, đều là pháp phương tiện, còn trong tạo tác sanh diệt, chưa thể từ đó thẳng đến Phật đạo được. Cụ thể ở đây, con đường độc nhất đối với Tứ Niệm Xứ là chỗ “đạt đến chánh trí, chánh niệm” của kết quả, đích đến từ pháp hành này như đã nói rõ ở trên, chứ không phải ở tại con đường. Nếu dừng lại tại con đường thì con đường Tứ Niệm Xứ sẽ không đồng với Tứ Đế… Trong khi các con đường ấy đều quan trọng như nhau cho nên không thể nói một pháp nào là một con đường độc nhất được.

Không phải mơ hồ mà nó có một định hướng rạch ròi cho nên gọi là một con đường. Nhưng chỉ là đạt đến tâm thể sáng ngời (chánh trí), vốn trong ngần, vô niệm (chánh niệm), chứ không bàn nói các tướng thứ lớp có tạo tác; do đó cũng không phải có tướng của một con đường. Pháp, nhưng không phải có tướng của phương pháp. Không pháp, cũng là một pháp. Cho nên có bài Kinh đức Phật nói: “Có pháp môn nào”, chứ không nói cụ thể là một pháp môn nào cả. Bởi pháp môn ấy vô tướng, không có danh xưng, nhưng hay dung hết tất cả các pháp môn mà đức Phật đã nói ra. Và đây mới đúng nghĩa là con đường độc nhất mà đức Phật muốn chỉ bày cho tất cả chúng ta. Bởi tất cả các con đường khác cuối cùng phải quy về trong này. Muốn thành Phật phải bắt đầu từ đây. Chỉ có độc nhất một con đường vô tướng này, không còn lối rẽ khác.

7.  LƯU Ý.

Đây là chỉ về cách nhìn qua lời Phật dạy, chứ không phải triển khai phương pháp hành trì. Nếu ngộ thẳng yếu diệu rốt ráo mà Phật chỉ dạy, đó là đốn ngộ bản tâm của Thiền Thượng Thừa. Ngộ thẳng tánh mình, không qua phương tiện. Nếu chưa thể như thế thì hành giả dụng công tu tập đúng nguyên lý Thiền Thượng Thừa mà Tổ Pháp Loa đã dạy: “Người tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa”. Nghĩa là: Còn dụng công thì không chấp vào phương pháp hành trì (không được chấp dụng công).Đã kiến tánh thì sống ngay bản tánh là công phu (dụng mà không có chỗ dụng).Đó là tu thẳng đến chỗ vô tu, không kẹt phương tiện, tạo tác.Là tu mà không tu; không tu mà tu; mới đạt đến chân thật tu hành.Đây là con đường thẳng tắt để đạt đến đích chính mà đức Phật muốn chỉ bày cho tất cả chúng ta, là nhận ra và sống bằng tánh Phật để thành Phật.

8.  KẾT LUẬN.

Ngay một lời Phật dạy mà hay thông được yếu chỉ rốt ráo là đã thông suốt được cốt lõi, trọng tâm, đại ý hay mục đích mà đức Phật muốn chỉ bày, hướng tiến cho tất cả chúng sanh. Cũng thế, thông được yếu diệu này thì tự mình suốt thông hết tất cả những gì đức Phật đã giảng thuyết.

Nếu ai học thông nghĩa lý Kinh Phật, quyết chí hạ thủ công phu. Thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm này bùng vỡ, rạng ngời, sẽ thấy ra rất rõ việc học Phật và tu Phật vốn rất thực và gần nơi chính bản thân mỗi người, chứ không phải ức tưởng, lập định hay học hiểu theo kiểu gom góp kiến thức vào, tư duy trừu tượng... Tuy Phật pháp rất thật, rất gần, bình thường và rất đỗi bình dị như thế. Nhưng nếu đã hay ra và sống được, mới thấy trong sự gần, thật, bình thường và bình dị ấy đã ẩn chứa sẵn sự phi thường, cao siêu và vi diệu vô cùng. Thức tình phân biệt không thể tưởng tượng, tư duy hay học hiểu đến được.

Thử tạm quên những khái niệm và kiến thức đã được định sẵn trong đầu. Khéo học và tu để thẩm thấu bài Kinh đức Phật đã dạy, đạt đến kết quả đầy đủ các tính chất và tác dụng mà đức Phật đã nói rất cụ thể rõ ràng và rốt ráo như thế. Mới hay ra, những gì đức Phật chỉ dạy thật sâu mầu, vi diệu, nhưng lại rất gần và có thật nơi mình.

 

 

 

 

Đều từ cái nhìn

THAY LỜI TỰA

 

Tầm nhìn đúng, hành động đúng, sẽ đưa đến kết quả tốt đẹp.

Tập sách này là những gợi ý.

Nhìn ra và hành động để đưa đến kết quả như ý là nơi mỗi người.

 

 Ngày Tết Xuân Canh Tý – 2020

Thích Tâm Hạnh.

Xem toàn bộ sách:

Tải về

Xem tiếp...

Thưa Hỏi Thiền

THAY LỜI TỰA

Lý thuyết là khuôn vàng thước ngọc. Vào thực tiễn ứng dụng, thực hành, luôn có sự uyển chuyển, vận dụng, linh hoạt và bao giờ cũng có cả sự phát sinh. Đây cũng là một trong những điểm đặc trưng tạo nên sự độc đáo riêng có của tâm thiền và việc hạ thủ công phu tu tập thiền. Khuôn mực, nhưng linh hoạt, sáng tạo. Bất động, nhưng linh thông, sinh động vô cùng.

 

Xem tiếp...

Hãy là chính mình

 

 

 

 

 

 

 


THAY LỜI TỰA

Như giữa ban ngày, cảnh vật rành rành trước mắt. Thoáng giấc ngủ say, mọi thứ đưa vào cơn mộng. Cũng vậy, tâm sáng nơi mỗi chúng ta, luôn luôn hiện tiền trên mọi sinh hoạt. Đi đứng nói cười, làm lụng công việc, thường tự rành rẽ rõ ràng. Không chút mê mờ, có đâu nhầm lẫn! Thế rồi bất chợt thoạt quên, con người bỗng như mộng mị. Hơn thua thành bại, hệt như mở mắt chiêm bao. Lắm nỗi đa đoan, chỉ do một thoáng quên lãng.

Tìm lại chính mình, chính là tìm lại tánh thể, giác sáng tinh khôi, vốn tự sẵn đủ. Ngay đây sống thẳng, liền được sống là chính mình. Hay ra như thế, tợ người tỉnh giấc chiêm bao. Muôn sự phơi bày, bỏ lại sau lưng, bao chuyện rối ren, buồn vui thế sự.

Dù cho chợp mắt chốc lát, mộng thấy một việc đơn thuần; cuốc đất làm vườn, ruộng nương canh tác. Hay là thâu đêm say giấc, mơ màng lắm chuyện cao sang; vua chúa quan quyền, doanh nhân thành đạt. Nhưng rồi sáng mai thức dậy, toàn không còn chút xíu gì. Vinh nhục sang hèn, thảy đều ảo ảnh trong mộng. Có nhiều hay một, tỉnh rồi hết thảy đều không.

Giấc mộng một đêm, là giấc mộng ngắn. Cuộc đời là giấc mộng dài. Dù ngắn hay dài, cũng đồng là một giấc mộng. Chỉ cần sực tỉnh, nhận lại chính mình, muôn việc tự xong, đâu cần nhọc tâm giải quyết! Lạc an sáng rỡ, tươi mới mỗi ngày, có gì vui thích hơn nhỉ!

Ngày Hạ năm Giáp Ngọ. DL.2014 – PL.2558

Kính ghi

Thích Tâm Hạnh

 

 

 

Vận dụng tinh thần
Thiền tông đời Trần
vào cuộc sống đương đại

 

 

 

I_ Thiền Tông Việt Nam Đời Trần

 

Đằng sau cái bóng của con trâu là một con trâu thật. Tận trong sâu thẳm của mọi hoạt động trong đời là một tâm thái lặng lẽ, sáng suốt, an nhiên. Chúng ta có thể rũ bỏ tất cả mọi thứ, nhưng không ai tài nào rũ bỏ được tâm thái này. Bởi nó chính là mình, là sức sống của chính mình, và cũng chính là tâm thiền nơi mỗi chúng ta. Do đó, thiền vốn là thiền, không là gì cả. Trên tâm này, tính nhất quán chỉ có một chất giác ngộ không khác. Nhưng quan niệm sống của mỗi vùng miền thì có phong tục tập quán khác nhau. Bằng tâm này để vận dụng uyển chuyển vào từng vùng miền, sao cho phù hợp với phong tục tập quán nơi ấy, khiến mọi người dễ dàng thích nghi và cảm nhận được giá trị cao thượng kia, từ đó có Thiền tông Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam…

 

Trước thế kỷ XIII, ở Việt Nam tồn tại ba dòng Thiền chính: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Đến thời vua Trần Nhân Tông, sau khi làm tròn trách nhiệm một vị vua, Ngài đã lên núi Yên Tử xuất gia tu hành. Trải thời gian công phu miên mật, ngài đã giác ngộ. Là người Việt Nam, Ngài rất thấu hiểu căn cơ, tâm tư tình cảm, phong tục tập quán của người Việt. Trên căn bản tâm giác ngộ ấy, Ngài đã dung nhiếp tinh túy những dòng thiền đang có, nhất quán, phù hợp với nếp nghĩ, cách làm, tâm tư nguyện vọng của người Việt, trở thành một dòng thiền chính thống Việt Nam chúng ta, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Từ đây, dòng thiền Việt Nam chính thức khai sinh, mang lại lợi lạc cho mọi người, khiến Phật giáo lúc bấy giờ trở thành quốc giáo.

 

 

 

II_ Gía Trị Tâm Thiền

 

Mọi người trên đời ai cũng có nhận định sáng suốt, trí tuệ, tài giỏi nhất định. Nhưng do không làm chủ được mình, dính mắc, lệ thuộc mọi thứ bên ngoài nên đưa đến sai lầm, dại dột, khổ đau. Nếu để bụng mình đói khát thì ly nước lã cũng cảm thấy ghiền. Nhưng khi đã no đủ những món ngon thượng vị rồi thì không còn thấy thèm cốc nước lã tầm thường kia nữa. Muốn thắng được mình thì chúng ta phải nhận ra một cái có giá trị lớn hơn tất cả những thứ đang có. Như thế mới không bị bất cứ một điều gì chi phối, không bị nô lệ mọi thứ bên ngoài, làm chủ được mình, được khôn ngoan đúng nghĩa, không còn lầm lỗi, khổ đau. Chúng ta sẽ nhận thấy điều này nơi Sơ Tổ Trần Nhân Tông.

 

Sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, của cải đầy đủ, nhất hô vạn ứng, kẻ hầu người hạ, binh lính đề huề, Vua Trần Nhân Tông đã có đủ tất cả những gì mà con người mơ ước. Nhưng Ngài đã nhận ra một cái có giá trị lớn hơn những gì đang có, cho nên mới bỏ lại mọi thứ để đi thực hành, khám phá cho cùng tột giá trị cao cả mà mình đã nhận ra. Khi đã thấu suốt, thành tựu viên mãn, Ngài đã sáng lập nên một đường lối để đưa mọi người cùng đạt được điều quý báu như mình. Giá trị quý báu ấy là tâm thiền. Và đường lối kia là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, Việt Nam.

 

Cốc nước lã muôn đời vẫn là một cốc nước lã bình thường, không hơn, không kém. Nhưng với người đói khát thì dính mắc, bị nó chi phối vô cùng. Với một người đã uống no món ngon thượng vị thì nước lã không còn là vị ngon với họ. Cũng thế, mọi thứ buồn vui, thành bại, của cải vật chất trên đời vốn nó bình thường như chính nó. Nhưng do chúng ta chỉ biết có mỗi mình nó rồi quan trọng, dính mắc, tham đắm cho nên bị chi phối, dẫn đến phức tạp, sai lầm, ngu dại, khổ đau. Ngược lại, cũng ăn, cũng mặc, cũng sinh hoạt và làm mọi việc trong đời như bao nhiêu người khác, nhưng bằng tâm thiền này để sống, để làm thì chúng ta mới cảm nhận được ý vị cao thượng hơn những thứ đang có quanh ta. Từ đây, chúng ta mới có đủ năng lực trả lại mọi thứ đúng nguyên bản vị của nó, xưa nay vốn không có giá trị quá mức như mọi người lầm tưởng. Nhận ra và sống được bằng tâm thiền này thì không còn bị bất cứ điều gì chi phối, các tính chất khác tùy nơi, tùy việc, tùy lúc mà chúng ta tự được soi sáng, tự nhận biết mình nên làm gì để đưa đến kết quả mỹ mãn, lợi ích, an vui.

 

III_ CẦN NHẬN RA TRỌNG TÂM,
CỐT LÕI, CHÂN LÝ

 

Nếu ai đó chỉ thấy rằng, mọi người chờ đến khi già yếu, hoặc gặp phải chuyện buồn hay bị thất bại trong đời mới tìm tới cửa chùa để xoa dịu nỗi đau, thì họ sẽ cho rằng, đạo Phật chỉ dành cho những tầng lớp như vậy, là thụ động, thiếu tích cực, bi quan. Trên thực tế, có nhiều người giàu sang, thành đạt, mọi thứ đang có đủ trong tầm tay. Nhưng do nhận ra được một chân hạnh phúc lớn hơn thế cho nên họ muốn có cơ hội để tranh thủ thực hiện điều này càng sớm càng tốt. Vậy thì đâu có đợi đến khi già, khi buồn hay khi thất thế mới hướng về tu tập? Có nhiều vị sau khi nghe giảng và đọc được cuốn sách thiền rồi đến thưa với quý thầy trong niềm cảm xúc vô hạn: “Phải chi con được gặp thầy và đọc được cuốn sách này trước đây 20 năm thì con đã không trải qua 20 năm sống trong đau khổ!”. Nghĩa là vị này hối tiếc cho sự muộn màng của mình, cần nhận ra chân lý thiền này sớm hơn để được sống, để không khổ chứ không phải chờ đến 20 năm sau mới bắt đầu tu tập. Và hôm nay phát tâm tu tập là do nhận ra được chân lý tối thượng này chứ không phải do bi quan, buồn đời hay chán nản… Cảm nhận được điều này là cảm nhận được căn nguyên trí tuệ và cội nguồn an lạc của đạo Phật, là nhận ra trọng tâm, cốt lõi, chân lý trước khi thực hành.

 

Đạo Phật là đạo cứu khổ ban vui, là nơi nương về để được cứu giải của những tâm hồn đau khổ. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Bởi nếu chỉ có thế thì ai là người cứu khổ và năng lực nào có thể cứu giải được những nỗi khổ kia? Muốn cứu được những người đang đau khổ thì phải có những vị tu hành giác ngộ. Và chỉ có trí tuệ và năng lực của sự giác ngộ chân lý tuyệt đối mới có thể cứu giải được bao nỗi khổ não trong đời. Do đó, song song với những người khổ đau, già yếu tìm đến cửa chùa, vẫn còn đó nhiều người do nhận ra chân lý cao thượng tìm về để trau dồi, tu tập một cách chuyên nghiệp, sâu sắc hơn. Thấy rõ như vậy mới không bị hiện tượng bên ngoài chi phối, dẫn đến nhìn thiếu, hiểu sai; mới có cái nhìn đúng về một chân lý mà ngàn năm sau nhân loại có khám phá gì thêm, cũng không ra ngoài những gì Đức Phật đã nói.

 

Khi còn là thái tử, được học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Nhân Tông đã nhận ra chân lý của Phật đạo, của Thiền nên Ngài đã bỏ lên núi Yên Tử đi tu. Vua cha là Trần Thánh Tông đi tìm bảo về lo vương nghiệp. Do công việc chung, Ngài đã tùy thuận trong trách nhiệm của mình, nhưng vẫn không thể sống thiếu chân lý, chân hạnh phúc cao thượng mà mình đã cảm nhận được. Điều này thấy rõ qua bài phú Cư Trần Lạc Đạo mà Ngài đã viết lúc còn ở trong hoàng cung. Do đó, từ nếp nghĩ, cách làm cho đến hành động, mọi việc đều được hoàn hảo, khiến cho nhân loại trên thế giới hiện nay, càng nhận ra, càng hiểu Ngài thì lại càng nghiêng mình kính chuộng.

 

Vua Trần Nhân Tông do nhận ra chân lý nên mới phát tâm tu hành. Cũng thế, khi làm bất cứ việc gì, Ngài cũng nhận ra điểm chính yếu, trọng tâm, cốt lõi một cách rõ ràng rồi mới hành động. Muốn vậy, cần phải có trí tuệ sáng suốt để nhìn nhận, quyết định; mà nguồn trí tuệ xuyên suốt trong cuộc đời vua Trần Nhân Tông là trí tuệ thiền do Ngài đã thâm nhập.

 

Trong bất cứ tình huống nào, làm bất cứ công việc gì, nếu bằng trí tuệ để nhìn nhận cho thấu suốt mọi vấn đề, nhận ra trọng tâm cốt lõi của vấn đề đó, không để cảm xúc hay các tác động bên ngoài thôi thúc, chi phối thì chúng ta mới có được tầm nhìn đúng, hành động đúng và đưa đến kết quả tốt đẹp. Được vậy là chúng ta đã vận dụng được phần nào cách sống và làm việc của vua Trần Nhân Tông, của Phật giáo Thiền tông đời Trần.

 

 

 

IV_ VẬN DỤNG TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA THIỀN TÔNG ĐỜI TRẦN

 

Một trong các yếu tố để xây dựng nên một đất nước hùng cường, vững mạnh, rực rỡ của thời Trần, trong đó phải kể đến nguyên nhân chủ đạo là biết vận dụng tâm thiền vào đời sống, công việc, trong nếp nghĩ, cách làm. Bằng chứng là vua Trần Nhân Tông đã nói, ở trong cõi đời mà Ngài vẫn vui được với đạo, tức là đạo lý chân thật luôn hiện tiền trong cuộc sống và trên mọi công việc của Ngài. Làm bất cứ việc gì Ngài cũng vận dụng tâm thiền nên đưa đến kết quả mỹ mãn. Người xưa đã như thế, ngày nay học theo tinh thần vua Trần mà bỏ qua yếu tố quan trọng này thì e là thiếu căn bản, chưa được trọn vẹn.

 

Cụ thể, khi giải quyết mọi công việc xong rồi, cuối ngày tắm rửa nghỉ ngơi, chúng ta thường phát hiện ra nhiều điều còn thiếu sót. Cho thấy, trí tuệ, cái nhìn của mình chưa được đầy đủ. Và chúng ta phát hiện ra những điều sai sót kia lúc trả lại sự yên lặng của lòng mình. Nếu đợi đến tối về mới biết, sự việc đã qua lâu rồi mới phát hiện thì đã lầm lỡ, muộn màng, không còn sửa kịp. Chi bằng nên biết kịp thời ngay trên sự việc đang xảy ra thì cách giải quyết mọi thứ sẽ được trọn vẹn, tốt đẹp hơn. Muốn nhận biết đầy đủ thì bằng tất cả những gì mình học được, cộng thêm vào đó một sự yên lắng kịp thời, chúng ta sẽ giải quyết mọi việc được hoàn hảo, thấu tình đạt lý; không bị nhầm lẫn, thất bại, hối tiếc về sau. Nhưng muốn yên lắng và sáng biết kịp thời thì phải biết vận dụng tâm thiền. Bởi chính tâm lặng mà tự sáng biết, đó là tâm thiền đang hiển hiện trên hoàn cảnh, công việc, ở khắp mọi nơi. Vận dụng được như vậy là chúng ta đã phần nào ứng dụng được tính chất nhập thế của thiền tông đời Trần vào mọi lĩnh vực đang phát triển trong xã hội đương đại.

 

 

 

V_  VẬN DỤNG TÍNH CHẤT KHÔNG DÍNH KẸT TRÊN PHƯƠNG TIỆN, HÌNH THỨC

 

Con người chúng ta thường nhằm trên hiện tượng đang xảy ra để kết luận một vấn đề nên không được thấu suốt, dẫn đến sai lầm, tai hại. Như muốn trị lành mụn độc, người bác sĩ chỉ nhận thấy trên mụn ghẻ rồi cho thoa thuốc bên ngoài mà không chịu tìm hiểu gốc rễ, căn nguyên phát ra căn bệnh để điều trị tận gốc bên trong thì không thể khỏi hẳn được. Tất cả mọi quyết định và hành động như thế là do hời hợt, chỉ nhìn trên hiện tượng bên ngoài rồi vội kết luận nên dẫn đến sai lầm.

 

Chúng ta không chỉ nghe người khác nói gì, mà phải bình tâm để nghe vì sao họ nói như thế. Chúng ta không nên nhìn người khác đang làm những gì để kết luận, mà phải tỉnh trí để thấy được vì sao họ làm những điều kia. Được vậy sẽ không dính kẹt trên hiện tượng, biết thấu suốt qua những phương tiện tạm thời để thấy tột đến chủ đích của mọi vấn đề.

 

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi lại câu chuyện. Đầu năm 1281, sứ nhà Nguyên là Sài Thung đến Thăng Long với thái độ rất ngạo mạn. Vua sai Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp, Sài Thung vẫn nằm khểnh không ra. Quang Khải vào hẳn trong phòng, Sài Thung cũng không ngồi dậy tiếp. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nghe thế liền tâu xin được đến sứ quán xem Sài Thung làm gì. Lúc ấy Quốc Tuấn cạo tóc, mặc áo vải như một nhà sư phương Bắc đến sứ quán. Ông đi thẳng vào trong phòng, Sài Thung đứng dậy vái chào mời ngồi, pha trà cùng uống. Người hầu của Sài Thung cầm cái tên đứng sau chọc vào đầu của Quốc Tuấn đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Sài Thung ra tận cửa để đưa tiễn Hưng Đạo Vương.

 

Nghe câu chuyện này, nhiều người bảo: “Chỉ có Trần Quốc Tuấn mới chịu được như thế, còn mình thì sức chịu đựng cũng phải có giới hạn, nhịn cũng vừa phải thôi, chứ đến cớ sự như thế thì sẽ tức điên lên, không chịu nổi”. Nếu thế, chúng ta sẽ không sáng suốt được và dẫn đến hành động sai lầm.

 

Giận mà không đổi sắc mặt là người mưu. Chọc tức mà không giận là người trí. Người đạt được đại trí, người ấy không bao giờ dễ sân giận bởi bất cứ hiện tượng gì. Nếu chưa như thế, chúng ta phải khéo bình tâm tỉnh trí, thấu qua hiện tượng để đạt đến chủ đích sâu xa. Được vậy mới không nông nỗi tức giận, không nhầm lẫn và sẽ đạt được mục đích chính yếu mình cần hướng đến.

 

Như khi đưa một ngón tay lên mắt và nhìn về rặng núi đằng xa kia. Nếu chỉ nhìn theo ngón tay thì sẽ bị khuất che, không thể thấy được rặng núi lớn. Ngược lại, nếu không chăm vào mà phải nhìn thấu suốt qua ngón tay thì chúng ta sẽ trông thấy được cả một vùng trời non nước hữu tình. Cũng vậy, nếu chỉ nhìn vào những thứ bên ngoài để đi đến kết luận một vấn đề và hành động thì có khác nào chỉ nhìn thấy ngón tay mà không trông thấy được rặng núi lớn trước mắt kia. Trên tất cả hiện tượng xảy ra giữa cuộc đời, chúng ta cần có tâm bình, khí hòa, trí tuệ tỉnh sáng để nhìn nhận cho thấu suốt và tường tận được chủ đích, thấu triệt được mọi căn nguyên sâu xa, từ đó mới có được hành động đúng đắn, tránh được sự nông nổi, sai lầm.

 

Nhìn trên hiện tượng thì không thẩm thấu được chủ đích của vấn đề. Đây là kẹt trên hiện tượng. Thấu qua hiện tượng để đạt đến chủ đích sâu xa kia, sẽ thấu triệt hết mọi vấn đề không sai chạy. Nếu biết vận dụng tính chất không kẹt trên phương tiện của nhà thiền sẽ giúp chúng ta nhận biết kịp thời để hành xử hợp lý trong mọi tình huống của cuộc sống.

 

VI_ VẬN DỤNG TRÍ TUỆ THIỀN

 

Một quả xoài lúc còn non mềm thì chúng ta có thể ăn ngon cả vỏ lẫn hột. Nhưng đến thời kỳ phát triển, chín rồi thì chỉ ăn được cơm của nó mà phải bỏ vỏ và hột đi. Đông Tây kim cổ vốn có nhiều điều hay đã làm cho đất nước của mỗi thời được huy hoàng, thịnh vượng, chúng ta cần trân trọng, học theo. Nhưng nếu học theo kiểu rập khuôn, một bề tuân theo hành động và hình thức bên ngoài thì chẳng khác nào thấy người xưa ăn xoài non ăn ngon cả vỏ lẫn hột, thời nay xoài đã chín, chúng ta cũng nuốt trọn cả hột lẫn vỏ xoài. Học theo một điều gì, chúng ta cần phải biết tính kế thừa hợp thời và phát huy có hiệu quả. Muốn thế, trước tiên cần phải có một trí tuệ thiền đủ sáng suốt để nhận định nên làm gì và làm như thế nào thì mới có tính sáng tạo, không bị rập khuôn.

 

Khi ném một hòn đá về phía trước, con chó sẽ chạy theo gặm lấy hòn đá ấy. Nhưng nếu là loài sư tử thì chúng sẽ quay lại cắn lấy tay mình, nơi xuất phát hòn đá kia. Mọi thứ triết lý, khôn ngoan, thành tựu trên đời, không có cái gì từ trên trời rơi xuống cả, mỗi mỗi đều từ trí tuệ con người mà có ra. Nếu chỉ học theo, gom góp mọi thứ bên ngoài thì có ăn rồi ngồi không cũng không bao giờ học hết. Giả sử có học được hết thì cũng chỉ học theo những điều đã xưa cũ, không ứng dụng kịp trước một cuộc thế luôn đổi mới từng giờ. Ngược lại, nếu biết khơi gợi, kích hoạt để mỗi người tự nhận ra trí tuệ nơi chính mình, đó là chúng ta nhận ra được cha đẻ của mọi thứ, nhận lại được cội nguồn xuất phát của những thành tựu trên đời, là một cậu sư tử oai hùng chứ không phải một chú chó ngoan ngoãn chỉ biết chạy theo hòn sỏi. Cuộc đời, hiện tượng có thay đổi muôn vàn, nhưng chúng ta đã có trí tuệ, có được cha đẻ của những thứ kia thì sẽ tùy thời vận dụng một cách linh hoạt, thông thạo, sáng tạo, hiệu quả, thành công.

 

Khi tâm đã sáng, soi rọi đến đâu thì vấn đề được sáng tỏ đến đó. Có được trí thiền thì ở vào bất cứ thời điểm nào, vận dụng vào đâu cũng được thành tựu, lưu thông. Mới biết, chỉ có trí thiền mới thâu tóm và vượt lên trên những đổi thay của thời đại thăng trầm.

 

 

 

VII_ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
KHAI MỞ TRÍ TUỆ CỦA NHÀ THIỀN

 

Trong lớp làm bài kiểm tra toán học, có ba bài đáp án đúng, nhưng có ba cách giải khác nhau. Nếu phải chọn ra một bài ưu việt, chắc chắn chúng ta sẽ chọn bài nào có cách giải ngắn gọn nhất. Ra một đề toán phải đảm bảo giả thiết vừa đủ chứ không thể bị thừa. Giải toán là trau dồi trí tuệ. Và trau dồi trí tuệ không có nghĩa là đưa vào quá nhiều giả thiết khiến cho bài toán dễ đi, nhìn vào là giải được liền, ai cũng làm được, không cần động não. Cũng thế, giáo dục không có nghĩa là đưa sẵn ra quá nhiều kiến thức sách vở để nhồi nhét, bắt học sinh phải học thuộc lòng rồi cho đó là học giỏi, có trí thông minh. Trong nhà thiền thường gọi sai lầm này là dính kẹt trên lý thuyết, văn tự, chấp vào ngón tay mà cho đó là mặt trăng.

 

Cũng như khi giúp một cậu học trò làm bài tập, nếu chúng ta giải sẵn ra để cậu ghi nhớ, chép vào thì cậu học trò này chỉ giỏi giải những đề toán tương tự, khi gặp các bài khác đi thì không thể giải được. Đây là học theo kiểu nhồi nhét, rập khuôn thì biết bao giờ mới giỏi? Ngược lại, nếu chúng ta không giải ra sẵn mà chỉ gợi ý vừa phải để cậu ta tự tìm tòi cách giải. Giải được một bài này, trí thông minh sẽ phát huy và sẽ giải được nhiều bài khác nhau một cách linh hoạt. Như thế mới biết kích hoạt trí tuệ nơi chính học sinh.

 

Cuộc đời là một trường lớp khắc nghiệt với vô vàn các bài toán khó thách đố lẫn nhau, không ai giải sẵn cho chúng ta cả. Mỗi một học sinh sau này bước ra phải đối diện, giải quyết. Nếu chỉ giáo dục theo cách rập khuôn, giải sẵn thì sẽ thụ động, làm sao có thể linh hoạt để bắt kịp, thích nghi? Như thế sẽ bất lực trước những biến đổi, khó khăn, phức tạp trên thực tế của trường đời. Cho nên, giáo dục có nghĩa là phải khéo léo kích hoạt trí tuệ nơi mỗi người được sống dậy, là phải biết đặt một vài vấn đề vừa đủ để khơi gợi cho mỗi người tự nhận ra, chứ không có nghĩa đưa quá nhiều điều để nhồi nhét. Có vậy, học sinh mới có đủ trí tuệ, linh hoạt, chủ động, mạnh mẽ, tự tin khi đối diện với vô vàn thử thách, biến đổi để làm nên nhiều điều tốt đẹp cho đời.

 

Khéo kích hoạt để người học nhận ra trí tuệ của chính họ, đó là sở trường và việc làm chính yếu của Thiền tông nói chung và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng. Nếu khéo vận dụng phương thức này vào giáo dục hay đào tạo một ngành nghề gì thì chắc chắn sẽ có những thành tựu mới mẻ.

 

VIII_ DỐC TÂM VÀO CÔNG VIỆC

 

Nhà Bác học Newton đã dồn tâm và phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn. Nhà Bác học Archimedes cũng đã dồn tâm về một mối nên mới có lúc tình cờ phát hiện ra lực đẩy. Mệnh đề của Newton là định luật vạn vật hấp dẫn. Mệnh đề của Archimedes là lực đẩy Archimedes. Còn mệnh đề của mỗi chúng ta là gì? Chủ đề gần nhất của mỗi con người là phải hoàn thiện tốt cuộc sống chính họ. Mệnh đề của xã hội là hoàn thành tốt đời sống ấm no hạnh phúc cho nhân loại, là hình thành một xã hội phát triển tốt đẹp trên mọi lĩnh vực: Văn hóa, kinh tế, chính trị, quân sự… Tùy theo sứ mệnh và sở trường của mỗi người, mỗi cộng đồng mà chúng ta cần phải dốc tâm hoàn thiện cho thật tốt.

 

Một nhà giáo nếu quá bận lòng với kinh tế, không có tâm tha thiết yêu nghề thì không thể trở thành một nhà giáo giỏi. Một bác sĩ quá quan trọng đồng tiền, không hứng thú trong khám phá y học và thương tưởng đến bệnh nhân thì không biết lấy gì để trở thành một danh y tài ba lỗi lạc. Một vị tu sĩ muốn tu hành tiến bộ thì điều kiện tối thiểu đầu tiên cần phải có, đó là sự thiết tha trong dụng công tu tập… Tất cả mọi lĩnh vực, nếu muốn thành tựu tốt đẹp đều cần phải có sự cần mẫn, dốc tâm. Nếu chúng ta hời hợt với những gì mình đang làm thì mọi việc sẽ không thành tựu như mong muốn. Cuộc sống nếu cứ thả trôi bồng bềnh thì sẽ phải cứ lênh đênh, trọn đời sẽ long đong, không đi đến đâu cả.

 

Như chú sư tử, khi bắt một con voi chú cũng dùng hết sức, và khi bắt một con chuột chú cũng không hề chủ quan chút nào. Một đôi khi chúng ta có thể bơi giữa đại dương muôn trùng không chết, nhưng lại chết trên một vũng nước trâu nằm. Có những việc to tác thì hoàn thành tốt, nhưng với việc nhỏ lại xem thường nên bị sai lầm, đưa đến phá hỏng mọi thứ và thất bại. Không xem thường, dốc hết sức mình, đưa tâm về một mối thì không việc gì mà không thành tựu. Tính chất dứt khoát, kiên quyết, nhất tâm, dõng mãnh, tinh tấn, không lười mỏi, không xem thường, không mê lầm của Thiền tông đời Trần sẽ giúp chúng ta làm tốt việc dốc lòng, toàn tâm toàn ý này.

 

IX_ PHẢI LÀ CHÍNH MÌNH

 

Muốn tìm hiểu một vấn đề thì phải nghe từ nhiều phía, nhiều người. Nhưng để đi đến kết luận, quyết định một vấn đề thì phải tự chính mình; phải từ nhận định, trí tuệ của chính mình chứ không vì bất cứ một điều gì bên ngoài cả.

 

Trong đề thi môn văn tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2014, câu II có trích một đoạn trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề “con người cần được sống là chính mình”.

 

Điều chính yếu đầu tiên cần phải xác định ở đây là “chính mình”. Nếu chưa xác định được “chính mình là gì” thì cuộc sống sẽ mất phương hướng.

 

Thấy bạn mình dùng vũ lực đánh đập người khác một cách dã man, A bảo:

 

- Cậu không nên hành động như vậy, lẽ ra phải khoan dung giúp đỡ người khác mới phải.

 

Anh B nói:

 

- Khoan dung, giúp đỡ người khác là tính cách của cậu. Còn tôi thì khác. Tôi không thể là cậu. Tôi chỉ muốn đánh anh ấy. Tôi phải là chính tôi.

 

Anh A bảo:

 

- Cậu không thể nhận hành động xấu xa tồi tệ đó làm chính mình được. Cái chính mình phải là điều tốt đẹp lương thiện cơ.

 

Anh B nói:

 

- Tốt hay xấu chỉ là do quan niệm của mỗi người thôi. Hành động đó cậu cho là xấu, nhưng với tôi thì nghĩ đó là nên làm.

 

Trước một thây chết, chúng ta có hành động thế nào họ cũng không thể nhận biết. Nhưng với người còn sống thì họ sẽ có nhận thức tốt xấu, thiện ác… Cho nên, thiện hay ác, tốt hay xấu chỉ là do quan niệm của mỗi một con người. Đã là quan niệm thì mỗi người sẽ có quyền quan niệm khác nhau. Đánh một kẻ khác, anh A cho đó là xấu ác, nhưng với anh B thì đó là hành động tốt lành. Bởi nó chỉ là quan niệm và chúng ta có quyền suy nghĩ theo cách của mình. Phải làm thế nào để hai anh này nhận ra chính mình một cách đúng đắn? Không xác định được điều này thì đạo đức xã hội sẽ bị hỗn loạn. Nếu chỉ dừng trên quan niệm tương đối thì con người sẽ không bao giờ có được định hướng để sống dứt khoát; khi vui thì nhường nhịn, khi thiếu kiểm soát thì hành hung. Chính vì lý do này mà nhân loại chưa mạnh mẽ để hướng thiện một cách tuyệt đối, khiến cuộc thế còn đó lắm nỗi lầm than.

 

Tông chỉ chính yếu của Thiền tông Việt Nam đời Trần là “phản quan tự kỷ” (tìm lại chính mình). Nhận ra chính mình một cách thấu đáo là nhận được trí tuệ chân thật rốt ráo nơi chính mỗi người. Từ đây đạo đức được định hình, trong con người này tự có năng lực phi thường, tự nó định tĩnh, dũng mãnh, tự tin, tự biết sáng tạo, ứng dụng trên mọi lĩnh vực. Ở vào vai trò nào cũng hoàn thành xuất sắc, vào tình huống nào cũng có trí lực biết chuyển xấu thành tốt, trên công việc nào cũng đều được thành tựu viên mãn. Vận dụng được tinh thần này vào trong đời sống là chúng ta đã phần nào ứng dụng được tinh thần Thiền tông Việt Nam đời Trần vào mọi phương diện của xã hội đương đại để đưa đến những thành tựu tốt đẹp.

 

Vậy thì, “chính mình là gì?”. Là việc mỗi người phải dốc tâm tìm học và tự khám phá thôi.

 

 

 

Hãy được sống
là chính mình

 

I_ DẪN NHẬP

 

Thông thường khi ra tiếp khách, bao giờ chúng ta cũng tươm tất, lịch sự, nhã nhặn, ôn hòa hơn khi ở trong phòng một mình. Đó là tập tính, thói quen của mỗi con người, sống theo hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chi phối dẫn đến trong lòng khác với ngoài mặt, chưa thật sự sống là chính mình.

 

Nếu bảo tùy vào từng trường hợp để vận dụng cho thích hợp, điều này chỉ được chấp nhận khi chúng ta đã xác định được chủ thể “chính mình là gì”, sau đó tính tùy thời mới đúng nghĩa. Nếu chưa như thế thì sẽ bị biến thái, cuốn theo vào nhiều hoàn cảnh và mọi thứ bên ngoài, đánh mất chính mình. Có nhiều diễn viên tâm sự, họ đã đóng quá nhiều vai diễn, không có thời gian để sống thực là mình cho nên đưa đến trạng thái không còn biết sự thật mình là như thế nào nữa. Cuộc đời từ bé đến lớn có vô vàn hoàn cảnh sai biệt, đổi thay. Nếu đánh mất chính mình, sống theo sự thế thì trong một ngày không biết chúng ta phải bị biến đổi theo bao nhiêu bộ mặt. Và nhiều năm tháng như thế sẽ tạo nên một đống bòng bong rối bời, lộn xộn, cuốn lấy, che lấp; bụi trần gian phủ dầy kín lên con người, không còn nhận ra chính mình là ai nữa. Từ đó cuộc sống mất phương hướng, nguồn gốc của mọi thứ sai lầm, phức tạp, gian ác, đau khổ có ra.

 

 

 

II_ VÌ SAO CON NGƯỜI CHƯA ĐƯỢC SỐNG LÀ CHÍNH MÌNH?

 

1/ Do cố tật không trung thực của con người

 

Trong các ngôi làng xưa thường có một cái giếng nước chung, mọi người thường ra đó để giặt giũ, gánh nước về nhà mình dùng. Một buổi sớm tinh sương trời chưa sáng hẳn, anh chàng nọ tranh thủ ra sớm để lấy nước uống cho gia đình. Khi múc nước lên, tình cờ thấy một cái quần đùi (quần cụt) không biết của ai từ dưới giếng cuốn theo cái gàu múc nước. Phát hiện một hành động thiếu văn minh lịch sự, không biết tôn trọng giữ gìn vệ sinh cho nguồn nước sạch chung, anh ta càm ràm chửi rủa inh ỏi. Nhìn kỹ lại thì hóa ra đó là cái quần của mình, anh liền nín thinh, giấu nhẹm.

 

Cũng là một hành động thiếu cẩn thận, không tôn trọng việc chung, là một việc làm không tốt. Nếu của người khác thì mình lên án inh ỏi. Nhưng nếu là mình làm thì giấu nhẹm, không dám nói ra. Không ai nói xấu về mình cả. Cũng ít có người dám nhìn thẳng và chịu trách nhiệm về những điều chưa tốt của mình để khắc phục, sửa sai. Con người thường khoe với nhau về những điều tốt đẹp, trong sáng, cao thượng. Trong khi đó thực tế đời sống hằng ngày thì bê bối, lôi thôi. Nhân vô thập toàn. Ai cũng có những điều tốt và chưa tốt, đó là điều tất yếu nơi mỗi con người. Nhưng nếu biết trung thực với những khiếm khuyết của mình để cố gắng sửa đổi, vươn lên đúng như những gì tốt đẹp mà chính mình và xã hội mong muốn thì lòng mình cảm thấy trong sáng, thỏa mái, an ổn vô cùng. Nếu cứ quanh co, vòng vèo, khéo léo, xảo trá để giấu che thì chỉ làm cho mình dễ bị mặc cảm, yếu đuối, dằn vặt bởi những thứ xấu xa được ủ thối nhiều ngày trong lòng. Người xưa từng nói: “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh kẻ quay đầu lại”. Đức Phật dạy có hai hạng người cao thượng. Một là không bao giờ phạm lỗi, hai là biết hối lỗi, sửa đổi sai lầm. Sau khi chiến tranh, vua Trần Nhân Tông đã khoan dung, hỷ xả, tha thứ cho những tội nhân phản quốc biết quay đầu. Mọi người trong đời ai cũng tôn trọng trân quý người biết hổ thẹn, hối lỗi, sửa sai. Nếu chúng ta mạnh dạn đối diện với sự thật để khắc phục, sửa sai, hướng thiện thì ai cũng khâm phục, tôn trọng. Như thế sẽ thấy lòng mình nhẹ nhàng, an ổn. Quý vị thử dõng mãnh, ngay thẳng trong từng tâm niệm sống; khi ở một mình cũng nghiêm chỉnh, đàng hoàng, trong sáng như khi đối diện với mọi người thì sẽ cảm nhận được tinh thần mình rất mạnh mẽ, sáng suốt và tự tin. Lúc này mới nhận ra giá trị biết sống thật với chính mình, không quanh co dối trá.

 

2/ Do dính mắc mọi thứ bên ngoài

 

Thói quen của đa số con người chúng ta là sống theo hình thức, hướng ngoại, đua đòi theo mọi thứ bên ngoài. Thấy bạn mặc một bộ đồ model thì mình cũng muốn có được một bộ đồ như bạn mà không cần biết model đó có mau lỗi thời, có phù hợp với mức sống gia đình mình, hay kinh tế của mình có cho phép hay không? Thấy có cái laptop, iphone, ipad mới ra thì lòng lại nôn nao, tìm mọi cách mua về cho bằng được, đi đâu cũng tò tò bên cạnh như khoe của mà không biết nhu cầu công việc của mình có cần đến như vậy không. Cứ thế mà đòi mới, nới cũ, không bao giờ có điểm dừng, bị mọi thứ đời mới trói cột, buộc mình phải quần quật chạy theo, bất chấp mọi sai trái, lỗi lầm. Hầu hết các tệ nạn xã hội đều do đua đòi, thiếu suy xét, đánh mất mình mà có ra. Khi quá quan trọng mọi thứ bên ngoài thì thường lấy nó làm hãnh diện, tạo thành một lớp vỏ bọc khoe khoang với xã hội, che đậy sự thật của mình. Một cuộc sống để cho quá nhiều thứ bên ngoài chi phối, không làm chủ được mình thì làm sao, lấy gì để sống thật là chính mình được?

 

Thử nhìn lại mình sẽ thấy rất rõ. Thí dụ như hôm nào đó gia đình cắt internet, không vào mạng được. Điện cúp, máy điện thoại hết pin, không có tivi. Có việc phải thức dậy từ 5 giờ sáng. Không có bún phở như mọi ngày, chỉ ăn sáng bằng cơm nguội từ hôm qua với đậu tương. Có lẽ các bạn trẻ chúng ta sẽ không thấy dễ chịu chút nào. Ngày xưa ông bà mình mơ ước làm sao có được cơm trắng ăn với muối ớt là cảm thấy ngon quý vô cùng. Quý vị thức dậy từ 4 giờ khuya để đi làm khoai, làm ruộng. Nào có điện thoại, Tivi hay internet gì đâu, nhưng ông bà mình vẫn sống tốt. Ngày nay chỉ hơi thiếu chút tiện nghi là con người không chịu nổi. Thời xưa mọi người có lúc phải đi bộ từ Nam tới Bắc. Lên tàu lửa chật chội, chen chúc nhau, có khi chỉ đứng được một chân, nhưng con người vẫn tồn tại và duy trì sinh hoạt được. Ngày nay đi xe phải chọn loại đẳng cấp. Lên xe tàu thì phải chọn chỗ thật êm. Đi máy bay phải đi hãng nổi tiếng, ngồi ghế VIP mới vừa lòng… Không biết tự lúc nào, mọi thứ của thời đại đã nhuốm màu lên con người ta, không còn là chính họ nữa. Không phải chúng ta nệ cổ bỏ kim, nhưng nếu là người thật sự không đánh mất mình, biết sống là chính mình thì hoàn cảnh nào cũng sống tốt, không câu nệ, đòi hỏi mọi thứ bên ngoài một cách thái quá, như thế mới chủ động, mạnh mẽ được.

 

Bên kia bờ sông là một ốc đảo. Người ta đồn bên ấy có nhiều điều phi thường, thi thố thần thông, bói toán rất giỏi, biết hết mọi chuyện quá khứ, vị lai, một nền văn minh hiện đại… Mọi người hiếu kỳ, không hề suy xét, bất chấp hao tốn, bỏ ra một số tiền khá lớn để được sang khám phá những điều đặc biệt phi thường kia. Anh A đi sang thấy một sự thật hoàn toàn trái ngược với lời đồn đãi, không có gì đặc biệt. Cũng ăn, cũng ngủ, cũng tất bật, vất vả, thiếu trước hụt sau, thậm chí không được tự do thỏa mái như ở nơi quê nhà của mình. Có thể ban đầu khám phá được chút ít điều lạ, nhưng khi lòng hiếu kỳ đã tắt, sự tưởng tượng thái quá không còn, trả lại nguyên hình với con người xác thịt phàm phu của mình thì mới thấy mọi thứ đạt được kia chỉ là hấp dẫn nhất thời, không giải quyết được gì, không đi đến đâu cả. Nhưng do đã trót tin theo lời đồn của thiên hạ, đã lỡ bỏ ra số tiền quá lớn, bán hết gia tài để được sang bên kia. Nếu nói thật bên ấy không có gì đặc biệt thì sẽ bị mọi người xem thường, chê cười. Để bảo vệ bản ngã, che lấp sự nông nổi sai lầm của mình nên đành phải miễn cưỡng nói dối, tô vẻ vấn đề, ca ngợi lên tận mây xanh. Cứ thế người này truyền miệng sang người kia tạo thành một làn sóng, trào lưu sai sự thật, dối gạt lẫn nhau. Nhiều nơi như thế, nhiều người như thế, nhiều lĩnh vực như thế khiến cho con người chúng ta không còn nhận biết chính mình là gì nữa. Những người thiếu tự tin nơi chính mình, sống theo những lời phao tin đồn nhảm thường mang lại nhiều hiểm họa khó lường.

 

Thông thường khi thấy cái gì của nước ngoài thì mọi người liền cho là quý chứ không cần biết chất lượng của nó như thế nào. Thấy ai đó đi nước ngoài về thì cho là sang trọng chứ không hề biết sự thật cuộc sống của họ được dễ dàng, tốt đẹp như mình nghĩ hay không. Nghe một tư tưởng hay nền văn hóa nào của nước ngoài liền ưa chuộng, bị cuốn hút theo ngay chứ không hề tỉnh táo tư duy xem, sự thật nó như thế nào, kết quả cuối cùng sẽ đi đến đâu. Cứ như thế, con người đánh mất chính mình tự lúc nào chẳng rõ. Sống theo hình thức bên ngoài, lệ thuộc mọi thứ bên ngoài chứ chưa bao giờ được sống thực với chính mình.

 

Ban đầu, khi mới được ăn một tô bún thì cảm thấy rất ngon, nhưng nếu ăn bún lâu ngày thì sanh nhàm chán. Hôm nào thấy tô phở thì bỏ bún, đòi phở. Không phải do tô phở ngon hơn tô bún, mà do ăn bún lâu ngày thành chán nên thấy phở cứ ngỡ là ngon và đua đòi theo phong trào ăn phở vậy thôi. Nếu đổi lại, sáng nào cũng ăn phở thì cũng sẽ có lúc chán phở và thèm bún. Học theo nề nếp phương Đông lâu ngày thấy thường, không còn cảm nhận được giá trị. Khi tiếp cận văn hóa phương Tây thì bỏ mất mình, đua đòi theo. Nhưng không biết rằng, đó chỉ là một trạng thái bật ngược lại của tâm hồn thôi chứ không hẳn văn hóa phương Tây là hay tuyệt đối. Chúng ta ở phương Đông thì học đòi theo phương Tây, nhưng những người phương Tây hiện nay lại có xu hướng nghiên cứu triết lý phương Đông. Rõ ràng là một sự đắp đổi chứ không phải do nền văn hóa chúng ta đang học theo là bậc nhất. Nhưng điều sai lầm của con người hiện nay là đánh mất mình để học đòi theo, bị cuốn theo cho nên nảy sanh ra những điều bất cập. Trên thực tế, không có một nền văn hóa nào hơn một nền văn hóa nào cả. Mỗi một nền văn hóa đều tồn tại những điều hay và chưa hay; hoặc là hay với điều kiện này mà không hẳn là hay ở hoàn cảnh khác. Nếu chúng ta bình tâm tỉnh trí, vượt lên trên mọi ý tưởng để nhìn nhận, chọn lọc, biết học hỏi thì mình mới có lực tự chủ. Không bị cuốn theo bởi bất cứ điều gì, không bị một cái gì bên ngoài đồng hóa để phải đánh mất chính mình.

 

Không cần biết đúng hay sai, có chất lượng hay không chất lượng, chúng ta luôn tìm những điều mới lạ để thỏa mãn tính hiếu kỳ. Cụ thể mọi người thường có tâm trạng trông chờ ngày mai coi có gì mới lạ hơn không? Vì trong tâm trạng trông chờ cho nên vừa thấy có gì khác lạ thì liền bất chấp mọi thứ để lao theo như một con thiêu thân lao vào ánh đèn, không kịp suy xét. Không biết có quá đáng không khi người xưa đã từng nói: “Một con chó già sủa bậy, cả bầy chó nhỏ sủa theo”. Hoặc có tâm trạng mơ mộng, cầu may làm sao mình trúng số để có được nhiều tiền… Tất cả những tâm trạng này cho thấy người này không có năng lực tự tin nơi chính khả năng mình, là mất mình, đuổi theo, lệ thuộc những điều chỉ có trong cầu mong, ảo tưởng, ngoài tầm tay, không biết tự sống là chính mình.

 

Mỗi người tự làm một cuộc thí nghiệm cho mình sẽ dễ nhận ra điểm này. Khi rảnh rỗi nhất, quý vị thích làm gì? Người thì đi shopping, người thì xem bóng đá, người thì đi phố, đi nghỉ dưỡng, nghe nhạc, xem phim, lên mạng chơi game, lên facebook, gọi điện cho ai đó, đi chơi với bạn bè… Tất cả những câu trả lời đó cho thấy, con người luôn nương vào một thứ gì đó bên ngoài để sống, như một con vượn chuyền cành, vừa buông cành này lại nắm tiếp cành kia. Hễ rảnh chút xíu là thấy chơi vơi, trống vắng, tìm cái gì đó lấp vào chứ không biết chính mình là gì cả. Mới thấy chúng ta đang nô lệ mọi thứ bên ngoài một cách thái quá, chưa được sống là chính mình.

 

3/ Do không tự chủ

 

Khi gặp chuyện buồn, chúng ta tự nhủ với lòng mình không nên buồn nữa, nhưng nó cũng không nghe theo, buồn vẫn cứ buồn da diết. Khi gặp hoàn cảnh làm cho mình tức giận dữ dội, chúng ta tự ra lệnh cho mình dừng lại, không được sân giận như thế, nhưng cũng không thể tức thời dừng bặt ngay… Những phiền não, tham lam, thói hư, tật xấu nơi mỗi con người chúng ta cũng tương tự như thế. Không ai muốn có những điều đó cả, nhưng do không tự chủ được cho nên bị nó khuynh loát, lấn hiếp, lừa gạt tinh vi, đưa con người vào chốn sai trái, ác độc, tạo khổ cho nhau. Những người biết mà cố tình vi phạm cũng do không tự chủ. Nếu chưa biết cách để chế ngự, làm chủ mình thì khó có thể vượt qua, không thể sống là chính mình được.

 

4/ Do chưa nhận ra chính mình

 

Đánh mất chính mình, dính mắc mọi thứ bên ngoài thì dễ bị mọi thứ bên ngoài sai sử. Không còn niềm tin nơi chính mình, hướng ngoại tìm cầu thì chỉ làm nô lệ cho tiền tài, danh vọng, vật chất. Không làm chủ chính mình sẽ không có được năng lực tự chủ, cuộc sống quanh co, không trung thực. Thô thì dùng vật chất bên ngoài để đánh bóng cho cuộc sống còn nhiều tồi tệ. Tế hơn thì dùng một số kiến thức để ngụy trang, che dấu sự bất tài mà không dám sống thật với chính mình. Có rất nhiều nguyên do, nhưng tất cả đều do không nhận ra chính mình cho nên không có sức tự chủ, không được sống là chính mình. Chỉ cần nhận chân cái gì chính thật là mình thì các sai lầm khác tự khắc tiêu dung, trả lại một đời sống chính thật là mình một cách trọn vẹn.

 

 

 

III_ CHÍNH MÌNH LÀ GÌ?

 

Muốn sống là chính mình thì điều tối thiểu đầu tiên cần phải biết, đó là “chính mình là gì?”. Nếu chưa xác định được chủ thể chính này thì cuộc đời không có định hướng, cuộc sống sẽ mất phương hướng.

 

Thấy bạn mình dùng vũ lực đánh đập người khác một cách dã man, A bảo:

 

- Cậu không nên hành động như vậy, lẽ ra phải khoan dung giúp đỡ người khác mới phải.

 

Anh B nói:

 

- Khoan dung, giúp đỡ người khác là tính cách của cậu. Còn tôi thì khác. Tôi không thể là cậu. Tôi chỉ muốn đánh anh ấy. Tôi phải là chính tôi.

 

Anh A bảo:

 

- Cậu không thể nhận hành động xấu xa tồi tệ đó làm chính mình được. Cái chính mình phải là điều tốt đẹp lương thiện cơ.

 

Anh B nói:

 

- Tốt hay xấu chỉ là do quan niệm của mỗi người thôi. Hành động đó cậu cho là xấu, nhưng với tôi thì nghĩ đó là nên làm.

 

Trước một thây chết, chúng ta có hành động thế nào họ cũng không thể nhận biết. Nhưng với người còn sống thì họ sẽ có nhận thức tốt xấu, thiện ác… Cho nên, thiện hay ác, tốt hay xấu chỉ là do quan niệm của mỗi một con người. Đã là quan niệm thì mỗi người sẽ có quyền quan niệm khác nhau. Đánh một kẻ khác, anh A cho đó là xấu ác, nhưng với anh B thì đó là hành động tốt lành. Bởi nó chỉ là quan niệm và chúng ta có quyền suy nghĩ theo cách của mình. Phải làm thế nào để hai anh này nhận ra chính mình một cách đúng đắn? Không xác định được điều này thì đạo đức xã hội sẽ bị hỗn loạn. Nếu chỉ dừng trên quan niệm tương đối thì con người sẽ không bao giờ có được định hướng để sống dứt khoát; khi vui thì nhường nhịn, khi thiếu kiểm soát thì hành hung. Chính vì lý do này mà nhân loại chưa mạnh mẽ để hướng thiện một cách tuyệt đối, khiến cuộc thế còn đó lắm nỗi lầm than.

 

 

 

1/ Cảm nhận từ đáy lòng mình, chính mình là hiền thiện

 

Lúc thiếu kiểm soát, không tỉnh táo, chúng ta hành hung, đánh giết, âm mưu thâm độc làm hại một người nào đó mình không ưa thích. Cho đến khi hành động thành công, hả hê, thỏa mãn như ý rồi. Thời gian sau mọi việc trở nên bình thường lắng dịu lại. Một buổi tối sau khi xong xuôi các công việc, tắm rửa, nghỉ ngơi, bất chợt nhớ lại sự việc vừa qua, tự dưng lòng mình cảm thấy xốn xang, khó chịu. Chính sự phản ánh của lòng mình xao xuyến, khó chịu cho biết việc làm và hành động trước kia là xấu ác. Ngược lại khi làm một hành động giúp người, cứu nạn. Mỗi khi yên lặng nhớ lại thì lòng mình cảm thấy hân hoan. Chính tâm thái này cho chúng ta biết hành động trước kia là hiền thiện. Khi cõi lòng yên lắng, bình tĩnh, tâm mình sẽ phản ánh đúng sự thật của nó. Xao xuyến, khó chịu hay hân hoan, vui nhẹ trong lòng, tâm thái đó mỗi người tự nhận thấy, không thể chối bỏ cái mình đang nhận thấy được. Căn cứ trên tâm thái đó để biết mình sống và hành động tốt hay chưa tốt, chứ không chỉ đơn thuần là do quan niệm của xã hội bên ngoài.

 

Khi lòng yên lắng thì con người ta thường nhận ra nhiều điều, thấy được những hành động sai lầm, thiếu sót trước đó. Nếu đợi mọi thứ đã qua, hành động xong rồi mới nhận biết thì sự việc đã chậm trễ, lỡ rồi, làm sao cứu chữa kịp nữa? Muốn được hoàn hảo thì chúng ta phải nhận biết kịp thời. Tức là đem sự yên lắng của cõi lòng đặt ngay kịp lúc mình đưa ra quyết định. Muốn thế, chúng ta phải bình tĩnh, lặng lòng trong mọi lúc, trên mọi hoàn cảnh, trước khi hành động thì mọi việc sẽ không bị nhầm lẫn, lầm lỗi, được trọn vẹn, chu toàn.

 

Có người cho rằng, vẫn có một số cá nhân do lòng thâm độc, âm mưu phá hại người khác, xong rồi cảm thấy rất tự đắc, hả hê, họ không hề có chút ăn năn, áy náy thì làm sao nhận biết đó là sai quấy? Đây là hạng người đáng thương tâm! Đức Khổng Tử nói: “Phi trắc ẩn chi tâm, phi nhơn dã”. Có nghĩa, không có lòng trắc ẩn thì không phải là con người. Đồng nghĩa, là con người thì ai cũng có lòng trắc ẩn, sẽ có lúc nghĩ lại. Người nghĩ lại, nhận ra sớm để sửa đổi thì may mắn vô cùng. Người làm ác mà còn hả hê, chưa có cơ hội để nhận ra ngay thì có ngày họ cũng sẽ nghĩ lại và nhận ra. Bởi lẽ họ cũng là con người. Đã là con người thì sẽ có lòng trắc ẩn nghĩ lại như bao nhiêu con người khác, nhưng muộn hơn và thiệt thòi cho họ.

 

Cuộc đời không có ai khổ mãi. Nhưng cũng không có ai vui mãi mà không có khi buồn, không ai thành mãi mà không có khi bại, không ai khỏe mạnh mãi mà không có khi bệnh yếu, không ai trẻ mãi mà không có lúc già, và cũng không ai sống mãi mà không có ngày chết. Người làm một việc ác mà còn hả hê được là do họ còn sức khỏe, còn tiền bạc, còn thế lực, còn tất cả những điều kiện thuận lợi che lấp, khiến họ chưa có cơ hội nhận ra. Sự hả hê kia là có điều kiện, là do dựa vào mọi thứ thuận lợi kia để chèn ép người khác mà có. Nếu do điều kiện mà có thì cũng sẽ vì điều kiện mà mất đi. Có nghĩa là khi mọi thứ thuận lợi kia không còn thì lòng hả hê, tự đắc kia cũng không còn có chỗ để tồn tại nữa. Khi ấy trả lại một thân phàm thật sự, không còn lớp vỏ bao bọc của tiền tài danh vọng che đậy thì lòng trắc ẩn sẽ tự hiện ra, mọi hành động xấu ác đua nhau hiện về xé nát cõi lòng trên một tấm thân già còm cõi, bệnh hoạn, yếu đuối, khổ não không biết nương tựa vào đâu. Đến lúc này mới nhận ra thì đã muộn màng, tội nghiệp cho sự mê mờ che đậy quá sâu dày, đưa đến đau khổ. Người xưa nói:

 

“Quá hậu nãi tri tiền sự thố,

 

Lão lai phương giác thiếu thời phi”.

 

Nghĩa là: Sau khi làm lỗi rồi mới biết việc làm trước đó là trái.

 

Khi già rồi mới biết lúc trẻ là sai.

 

Một đôi khi do lòng tham thôi thúc, do nóng giận sôi sục nên nhất thời khiến con người hành động thiếu suy nghĩ. Đến khi tạo tội lỗi rồi thì lòng mình tự nó nguội lại, lắng dịu, mới nhận biết sự việc trước đó là lỗi lầm. Có khi do sự nông nổi, bồng bột của tuổi trẻ khiến con người hành động ngang ngược, nói càng, sống bừa. Đến lúc có tuổi, chững chạc, tâm mình trở nên trầm tĩnh, sâu lắng, sẽ tự nhận ra những việc làm sai trái của thời trẻ trung. Cho thấy, chính tâm bình, khí hòa, trầm tĩnh, sâu lắng mới phản ánh được hành động của mình một cách khách quan, trung thực, chính xác. Nếu vì các tác động khác như là buồn vui, thương ghét, mừng giận, tham lam… hay vì các điều kiện sức mạnh, háu thắng, quyền uy, địa vị, thế lực… để quyết định vấn đề, để hành động, để sống thì sẽ bị sai lầm, khiến mình ăn năn, ân hận, khổ não về sau. Bởi lẽ sau khi hành động rồi thì các trạng thái buồn vui, thương ghét… từ hành động kia sẽ tự lắng xuống; các điều kiện khác như là sức mạnh, thế lực… đến lúc không còn thì lòng mình cũng tự trả lại âm trầm. Lúc này mọi việc thiện hay ác, tốt hay xấu tự nó được phản ánh trung thực từ tâm thái yên lặng này. Nó sẽ tự động hiện lên trong cõi lòng mình, chúng ta sẽ nhận thấy rất rõ và phải gánh lấy hậu quả; không thể lưu manh, gian xảo hay khéo léo chối bỏ được tòa án trung thực tự đáy lòng mỗi người. Một người con hằng ngày ngỗ nghịch bất hiếu với bố mẹ như thế nào thì khi bố mẹ đột ngột qua đời, nó sẽ ân hận và khóc nhiều như vậy. Nếu chờ khi lầm lỗi rồi mới nhận biết, đợi đến lúc già mới hay ra thì quá muộn, lỡ lầm, không còn cơ hội sửa sai. Chi bằng dùng tâm yên lặng của lúc xong việc, sự trầm tĩnh, sâu lắng của tuổi già đặt vào ngay vị trí trước khi hành động hay làm một việc gì thì sẽ sáng suốt, không bị sai lầm để phải ân hận, hối tiếc, sầu khổ về sau.

 

Như vậy, căn cứ vào cõi lòng yên lắng, thanh tịnh của mình phản ánh trung thực để nhận biết hành động chúng ta làm là hiền thiện hay xấu ác. Sống và hành động xấu ác sẽ đưa đến xao xuyến, dằn vặt, xáo trộn, điên loạn, khổ đau. Nghĩ và làm việc hiền thiện thì sẽ được hân hoan, an vui, cao thượng. Là người thông minh sáng suốt thì tự biết chọn hướng sống cho mình. Bất kể trước mặt hay sau lưng, mọi người có biết hay không thấy biết, chúng ta vẫn luôn luôn sống trung thực đúng với chính mình. Chọn hướng sống hiền hòa, lành mạnh để đưa đến một cuộc sống an vui, tự tin, không hổ thẹn với mình và mọi người.

 

2/ Chính mình là nội tâm an tĩnh, vượt lên trên thiện và ác

 

Khi thấy con rắn bắt con nhái, chúng ta nên xử lý thế nào cho trọn vẹn? Nếu cứu con nhái thì con rắn bị đói, ác với con rắn. Nhưng để con rắn được no thì con nhái sẽ rất đau khổ, cũng không công bằng. Trong cuộc sống, như là trong các mối quan hệ liên quan giữa những thành viên trong gia đình, bạn bè, công sở, xã hội…, chúng ta vẫn thường gặp nhiều trường hợp không dễ xử lý. Có những sự việc xảy ra đa chiều, không dễ dàng để chọn lựa được một phương hướng xử lý. Có khi phải chấp nhận tương đối mới giải quyết được. Cho thấy, thiện và ác, tốt và xấu chưa thoát khỏi vòng tương đối của thế gian.

 

Trên tương đối thì thiện vẫn tốt hơn ác. Nhưng trên tuyệt đối thì thiện và ác vẫn chưa rời khỏi tâm dao động. Chính sự dao động này làm cho chúng ta mất năng lượng, không có lực, lòng còn nhiều phân vân, không ổn định cho nên còn bị các sầu khổ trong đời chi phối. Có những người đã sống đúng, hành động đúng, nhưng vẫn cứ nghe cõi lòng mình còn xao xuyến, chưa an. Đó là do chưa nhận ra cái chính mình rốt ráo chân thật, bất động, sáng suốt, an nhiên. Tuy làm thiện, sống tốt, nhưng còn nằm trong vòng tương đối dao động của thiện và ác, tốt và xấu cho nên tâm mình chưa được an tĩnh, chưa thoát khỏi sự chi phối của khổ đau. Do đó, hành thiện, tránh ác, làm điều tốt, tránh điều xấu, nhưng tâm mình phải an tĩnh, thanh tịnh thì mới an nhiên và ổn định được. Mới thấy, cái chân thật chính mình không chỉ dừng trên cách sống hiền thiện mà còn tâm mình phải được thanh tịnh nữa. Chính tâm thanh tịnh, bất động, không sanh khởi nhưng vẫn sáng suốt, biết hết mọi thứ không ngăn ngại mới chính thật là mình.

 

Đối với sự thể có thể xử lý được hoàn hảo, tuyệt đối thì dễ dàng cho chúng ta chọn lựa được một hướng giải quyết. Với hoàn cảnh không phải một chiều, mang tính tương đối thì chúng ta nên dùng tâm an tịnh, thật sự tốt để tùy thời, tùy việc xử lý trong tương đối. Như thế, cách giải quyết sẽ được thấu tình, đạt lý. Bởi lòng chưa thanh tịnh, không trong sạch và chưa thật sự tốt thì dễ sai lầm khi dùng lý tương đối này. Như là xử lý theo bản ngã, tình cảm, theo các tác động khác bên ngoài… đưa đến hành động sai lầm, tai hại. Nếu tâm thanh tịnh sẽ cho chúng ta một năng lực định tỉnh, trí tuệ rõ ràng, dứt khoát, xử lý sự việc sắc nét. Sau khi xử lý công việc đúng theo cách tối ưu trong chừng mực của tương đối rồi, chính năng lực định tỉnh, sắc nét này sẽ giúp cho mình không còn xao xuyến, không bị cái tương đối trong đời chi phối nữa. Đó là cách biết sống thật là chính mình.

 

 

 

IV_ TAI HẠI KHI KHÔNG ĐƯỢC SỐNG LÀ CHÍNH MÌNH

 

1/ Thiếu tự tin, luôn bất an, đau đáu lo sợ

 

Như người phạm tội, ngày đêm luôn che dấu, lo sợ mọi người như thế nào thì người sống thiếu trung thực, sống bằng vỏ bọc giả dối bên ngoài lúc nào cũng đau đáu sợ người khác nhận biết được sự thật của mình cũng như thế ấy. Vì thế, lúc nào cũng sống trong nơm nớp lo sợ, thiếu tự tin, cuộc sống nặng nề, khổ sở.

 

Người xưa nói: “Cảnh cùng khốn phải chăng là trường thí nghiệm về nhân cách con người? Phải chăng, cùng khốn hay không cùng khốn là do hoàn cảnh. Cảnh có thể cùng khốn mà cuối cùng không thể làm cho cùng khốn là do con người? Cái mà bậc trượng phu giữ gìn là trung chánh, tuy rằng trăm lần gãy đổ mà họ vẫn điềm nhiên không lo lắng. Cái mà tiểu nhân hướng tới là tà vạy, sớm chiều bo bo mưu kế vị lợi. Cho nên, sự phân biệt giữa trượng phu và tiểu nhân là ở ngay trong cảnh cùng khốn mà thấy rõ”.

 

Có nhiều người thường dựa vào mọi thứ như là sức khỏe, của cải, quyền uy để làm lớp vỏ che đậy những tâm niệm và việc làm tà vạy, xấu ác, ngụy trang cho cuộc sống của mình. Khi mọi thứ đang thuận lợi, họ thường lấy đó làm sức mạnh. Sớm chiều bất chấp thiện ác, đúng sai, chỉ biết nương vào thế lực để bo bo mưu kế, trục lợi cá nhân, ngỡ như chiến thắng, yên ổn, thành công. Cho đến khi mọi thứ không còn thuận lợi, lâm vào cảnh cùng khốn thì ngày đêm lo lắng, ăn không ngon, ngủ không yên vì cuộc sống ngụy trang giả dối, vì hành động thiếu suy xét của mình. Lúc này mới biết, lâu nay mình chỉ sống theo mọi thứ bên ngoài, không có gì là chính mình cả. Khi đối diện với thước đo nhân cách con người, họ sẽ khổ đau, bất lực. Nếu là bậc trượng phu, ngay thẳng, trung chánh, sống thật là chính mình thì dù có trăm lần thất bại, oan ức, gãy đổ; dù cuộc đời này có ban tặng những món quà bất như ý để thử thách thế nào đi nữa thì họ vẫn điềm nhiên, tự tin, an ổn, không lo lắng. Một người không may bị bệnh ghẻ ngứa, dù có ngụy trang bằng nước hoa, cho ở nơi lầu cao cửa rộng thế nào đi nữa thì ngứa vẫn cứ ngứa, không che đậy được. Nếu được chữa trị lành hẳn thì có nằm dưới đất cũng vẫn cảm thấy an ổn vô cùng. Lòng đã trung thực, trong sáng, cao thượng thì ở chỗ nào cũng được thành tựu, chứ không phải do ở chỗ này mình được tốt mà đến chỗ kia thì không được tốt lành. Cho thấy, người sống trung chính, sống thực là chính mình thì ở vào hoàn cảnh nào cũng được an vui, lợi ích. Kẻ sống tà vạy, giả dối, ngụy trang thì không bền chắc và lúc nào cũng dằn vặt, bất an.

 

2/ Tai hại không lường

 

Khi không nhận ra chính mình, sống theo bên ngoài thì mọi sai lầm từ đây có ra. Có nhiều đứa trẻ ban đầu chơi game như là một sở thích bình thường của trẻ con. Lâu ngày say sưa, sống trong thế giới ảo, quên hết những hiện diện xung quanh, chỉ biết vui buồn, mừng giận trên các trò chơi ấy. Cho đến một lúc mất hết quyền kiểm soát của bản thân, không còn biết mình là ai và đang sống như thế nào nữa, bắt đầu mang bệnh, phải nhập viện, nhờ đến sự can thiệp của thuốc thang và bác sĩ. Từ một người đang bình thường, chỉ do quên mất chính mình, sống theo ảo ảnh bên ngoài để phải trở thành một bệnh nhân tâm thần thật là oan uổng. Chưa hết, có không ít người do nghiện game, dẫn đến những hành động táo bạo gần như không phải tính người.

 

Đôi khi rảnh rang muốn lên các trang mạng xã hội tán ngẫu. Tưởng như đó chỉ là một cách thăm hỏi hay nói chuyện tào lao cho đỡ buồn, hoặc học lấy một điều gì hữu ích. Có ai ngờ đâu, lần hồi chạy theo những thứ mới lạ, đúng sai, vui buồn trên đó. Cho đến một hôm thiếu vắng internet thì không chịu nổi, mới biết mình đã trở thành người nghiện facebook tự hồi nào không rõ. Đây là do không biết sống bằng chính mình mà hướng vọng theo bên ngoài, dẫn đến tai hại sống trong thế giới ảo tưởng, ngông cuồng thái quá, thậm chí có những hành động không phải của một con người tỉnh táo, bắt đầu điên loạn, tai hại khó lường. Những hiện tượng này hiện đang tràn lan ngoài xã hội khiến cho nhiều gia đình phải rơi vào hoàn cảnh đáng thương.

 

Nơi sản sinh ra các công nghệ cao như iphone, ipad, hay chủ các trang mạng xã hội là các nước ở Tây phương như Mỹ… Nhưng những người trẻ ở đây đã nhận ra đó chỉ là mọi thứ ảo tưởng, sống trong ảo ảnh, không thật nên đã nhàm chán, xem thường, không còn thích thú với những thứ trên internet nữa. Họ bắt đầu trở về với cuộc sống thực tế đời thường; làm vườn, nhổ cỏ, đánh luống, trồng rau. Họ nhận ra mọi người chung quanh là những con người thật họ được tiếp xúc; những luống rau xanh là những thứ họ thưởng thức được, cảm nhận rõ ràng. Họ không còn bị ăn bánh vẽ của những thứ trên mạng. Chính cuộc sống thực tiễn này mang lại cho họ niềm vui an lành, hài hòa, thỏa mái thực sự. Trong khi đó chúng ta lại đang mê mẩn, đắm đuối, say sưa, cuống cuồng chạy theo những thứ ảnh tượng mà chính những người sản sinh ra nó đã bỏ đi, không còn mặn mà nữa. Mới thấy, mình đang bị mê man, lầm đường, lạc lối một cách thái quá. Nếu như sực tỉnh, chúng ta sẽ không thể chấp nhận hay tưởng tượng nổi sự mê muội của chính bản thân mình.

 

Cũng do đua đòi, thiếu suy xét cho nên có không ít người thoáng chốc trở thành con nghiện xì ke, ma túy, làm khổ người thân, trở thành tệ nạn xã hội và cuối cùng tự đưa cuộc đời mình vào chỗ chết dần chết mòn một cách ngây dại. Đó chỉ là một vài dẫn chứng điển hình, giữa đời này còn có vô vàn những tai hại do sống mất mình không thể kể hết. Gẫm lại, nhìn cho tường tận mới thấy giật mình!

 

3/ Mất mình là gốc của mọi đau khổ

 

Khổ đau lớn nhất của con người là mất tự do. Làm thành viên trong một gia đình quá khắc khe, thiếu sự cảm thông chia sẻ giữa mọi người với nhau, không tôn trọng nhau, luôn bị lệ thuộc, không có chút quyền tối thiểu của chính mình. Như thế sẽ đưa đến cuộc sống ngột ngạt, khó thở; cũng khổ đau. Một đất nước bị nô lệ, người dân sẽ lâm vào cảnh lầm than, không làm chủ được mình; cũng khổ đau. Mọi thứ không chịu chuẩn bị cho chu đáo, đụng đến thứ gì cũng phải đi nhờ vào người khác, không chủ động; cũng khổ đau. Khi sống lệ thuộc vào mọi thứ bên ngoài như tiền tài, danh vọng…, sẽ mất tự chủ; cũng khổ đau. Cuộc đời vẫn còn đó vô vàn những thứ khổ đau tương tự như vậy, nhưng đều bắt nguồn từ nguyên nhân không tự chủ, mất mình. Cho đến nổi khổ lớn triền miên, dai dẳng trong luần hồi sanh tử cũng do mê mờ, không nhận ra cái chân thật chính mình mà có ra. Tóm lại, quên mình, không làm chủ, không được sống là chính mình sẽ sanh ra mọi sai lầm, khổ não. Mới thấy, giá trị được sống là chính mình lớn lao biết dường nào!

 

 

 

V_ Hãy Sống Bằng Chính
Khả Năng Của Mình

 

Lúc còn đi học, thấy bạn bè có gì thì mình cũng đòi bố mẹ phải mua cho bằng được. Thấy các bạn phô diễn thời trang, học đòi theo thói đời ăn chơi ra vẻ thời thượng… mình cũng cố tìm mọi cách đua đòi cho kịp chúng bạn, không chăm chỉ học hành. Là người trầm tĩnh, biết tư duy đúng đắn sẽ không như thế. Bởi còn ngồi trên ghế nhà trường, mọi thứ đều phải sống nhờ vào gia đình, tự mình chưa làm gì ra tiền của cho nên không có gì là của mình cả. Dùng cái của người khác để tô đắp cho kiểu ăn chơi xa xỉ của mình mà cho là thời thượng, hào phóng, phong lưu được sao? Đó chỉ là một sự giả tạo, lợi dụng sức lao động của người khác chứ không phải của chính tự thân mình. Nếu cứ mang tư tưởng sống tựa vào người khác, lấy cái của người khác làm của mình như thế lâu dần sẽ trở thành một thói quen, không biết tự lo cho mình. Không lo học tập, không biết tự lập, không phấn đấu tự thân, sau này không thể tự đứng vững bằng đôi chân chính mình. Một mai bố mẹ già yếu, của cải không còn, mình không đứng vững, trở thành một người thụ động, bất lực, vô tích sự trước cuộc sống của những bạn bè thành đạt. Lang thang đầu đường cuối phố, mọi người gặp mãi cũng chán, bảo không ai nghe. Cái gọi là thượng lưu, hào phóng, cái thế anh hùng thời học sinh, lúc này chỉ còn là ảo ảnh, ký ức, không đem ra sử dụng vào đâu được cả. Bây giờ mới biết mình đã sai lầm. Mọi chuyện muộn màng, làm sao có thể quay lại thời tuổi thơ để sửa đổi nữa? Đó là tai hại do không biết tự lo cho mình, không biết định hướng sống bằng chính mình.

 

Vẫn có những bạn cùng học chung lớp, nhưng bao giờ cũng nghiêm chỉnh, giản dị, chăm chỉ học hành để định hướng cho tương lai mình. Nếu bạn bè có biếm nhẻ là yếu hèn, không biết sống theo thời thượng thì bạn ấy cũng không hề bị chi phối, cuốn theo bởi những cách nghĩ sai trái, lối sống không phải của một học sinh. Bởi mình là học sinh, chính mình chưa tự làm ra được tiền bạc của cải gì cả. Cuộc sống hiện tại hoàn toàn nhờ vào bố mẹ, cho nên yếu hèn với những trò ăn chơi hư đốn cũng phải. Bởi đã có gì là của mình đâu mà phong lưu với thời thượng? Bổn phận, trách nhiệm, thế mạnh lúc này là cố gắng chăm chỉ học hành, rèn luyện bản thân, chuẩn bị cho mình một tương lai bằng chính năng lực của mình… Thấy thực chính mình như thế, sẽ có một lối sống đúng đắn, tích cực, đưa đến thành tựu trong học tập và tương lai đời mình. Hai mươi năm sau trở thành một người thành đạt, ngồi một chỗ cũng không thiếu những người đến thăm hỏi, sẻ chia. Mọi thứ lúc này mới là của mình làm ra, sống bằng chính cái của mình, đồng thời còn giúp thêm được nhiều người, nhiều lĩnh vực cho cộng đồng, xã hội. Không vui thích hơn sự hào phóng hư ảo của trẻ con hay sao?

 

Trong một gia đình giàu có nọ, chỉ có một cậu con trai, bố mẹ rất thương quý. Gia sản nhà này tiêu xài đến đời con đời cháu cũng không hết. Tuy nhiên, ông bố không dễ tính. Đến tuổi trưởng thành, ông bảo cậu con trai phải tự đi kiếm tiền bằng chính năng lực của mình mang về cho ông xem. Nếu được thì mới trao gia tài cho, bằng không thì ông sẽ sung vào công quỹ phúc thiện xã hội chứ không cho cậu ta dù chỉ một đồng. Là một công tử nhà giàu chỉ quen xài tiền, hưởng thụ chứ chưa bao giờ nghĩ đến việc phải lao động làm ra đồng tiền bao giờ. Thấy con bối rối, bà mẹ lén lấy một ít tiền và bảo con tạm đến một thành phố khác, thuê một chỗ ở trong khu nghỉ dưỡng cao cấp và nghỉ ngơi ở đó một thời gian, sau đó lấy số tiền này mang về trao cho bố. Như lời mẹ dặn, một tháng sau cậu con trai về nhà mang ba triệu đồng trao cho bố và thưa, đó là đồng lương đầu đời mình vừa kiếm được. Tức khắc, ông bố nắm tiền ném vào bếp lửa, bà mẹ nhớm người định ngăn lại trong khi cậu con trai vẫn dửng dưng đứng nhìn. Bởi chừng ấy tiền chưa đủ để cậu ta dùng vào một bữa tiệc. Ông bố mỉm cười bảo, đây không phải tiền của chính con tự tay làm ra. Thế là hôm khác quyết tâm lên đường, cố gắng tìm một công việc gì tự mình lao động xem coi thế nào. Thế rồi cũng được một công ty nhận vào làm việc. Ngày đêm quần quật, vất vả suốt cả tháng trời, cậu nhận được hai triệu đồng tiền lương bằng chính mồ hôi nước mắt của mình mang về dâng lên bố. Ông bố cầm lấy vừa định xé rách làm hai, cậu ta nhanh nhẩu giật lại. Nhìn nét mặt, thần sắc và hành động cậu con trai, ông bố rất cảm động cho sự trưởng thành của con mình và trao toàn bộ gia tài lại cho anh ta quản lý.

 

Đồng tiền từ sức lao động chân chính, từ chính sự nỗ lực của mình làm ra bao giờ cũng có giá trị, có ý nghĩa và chúng ta mới trân quý, sử dụng đúng chỗ. Nếu chưa tự mình trải nghiệm khó khổ để biết giá trị vật chất có ra từ mồ hôi nước mắt của người khác như thế nào thì cậu con trai sẽ tiêu xài vô tội vạ. Tài sản có gấp nhiều lần của bố mẹ anh ta đang có cũng không đủ cho anh dùng vào những nơi tệ nạn, hư đốn và cuối cùng tự giết chết đời mình. Trao tài sản cho một con người như thế là trao tai họa cho chính họ. Một ông bố đã khéo léo dạy con mình biết nhận ra giá trị đồng tiền để sau này quản lý tài sản một cách có hiệu quả, sẽ mang lại lợi ích cho cuộc sống của cậu con trai và mọi người. Giá trị này chỉ dành cho những ai biết sống bằng tự thân nổ lực phấn đấu của chính mình; không lợi dụng hay nương tựa vào thế lực bên ngoài thì mới cảm nhận được.

 

Có những người con do thiếu suy nghĩ, được bố mẹ dồn hết sức để lo cho rồi mà vẫn chưa hài lòng, luôn trách cứ bố mẹ, tại gia đình này nên tôi mới ra nông nổi này. Tại sao không nghĩ mình đã làm được gì cho bố mẹ, cho xã hội, mà lại đòi hỏi bố mẹ hay xã hội phải làm gì cho mình? Đó là do không biết sống bằng chính khả năng của mình, không biết phấn đấu tự thân cho nên dẫn đến suy nghĩ và hành động tiêu cực. Do đây, con người trở nên thụ động, nhỏ nhen, luôn nghĩ mọi người phải làm gì cho mình mà không tự mình làm nên một tích sự gì cả. Bố mẹ không thể có tiền để cho mãi, và trên đời này không ai sinh ra để nuôi ai cả. Khi đã hiểu sai, chính mình không lo được cho mình thì sẽ có ngày tự đưa mình vào ngỏ cụt không có lối thoát. Người như thế thì bố mẹ có cho bao nhiêu tài sản họ cũng không thấy đủ. Họ sẽ tiêu xài đồng tiền vô tội vạ, lần hồi đi đến chỗ hư đốn, tệ nạn, xấu xa. Đó là tai hại do không biết sống bằng chính năng lực của mình.

 

Tình cờ gặp một người giàu sang, có địa vị trong xã hội, chúng ta nghĩ đến: “Mình có gì cần nhờ vả họ?”; hay quan tâm hỏi: “Tôi có thể giúp được gì cho anh?”. Thực tâm nhìn lại lòng mình, mới biết chúng ta có phải là những người con trong câu chuyện trên hay không nhé!

 

Một bạn sinh viên có hoàn cảnh gia đình không khá giả lắm. Tình cờ được anh bạn đại gia rủ đi đến một vùng được gọi là thiên đường của trần gian để nghỉ dưỡng. Bạn ấy suy nghĩ, nếu sống bằng chính mình, không nương vào người khác thì không bao giờ mình biết được cảm giác nơi ấy như thế nào. Còn đi chơi thì đã nương theo người khác. Thà không phải là chính mình, nhưng có được cảm giác vui đó vẫn hơn. Như vậy có ổn không?

 

Mình là con nhà nghèo, tự mình không có khả năng và phải nhờ đến anh chàng đại gia mới có thể đến được nơi thiên đường trần gian ấy. Mình biết như thế thì anh chàng kia cũng tự nhận thức được điều đó. Khi chấp nhận đi chơi có nghĩa là chấp nhận theo suy nghĩ đó. Đồng nghĩa đã đánh mất nhân cách, phẩm chất và tự đưa mình vào giai cấp hạ tiện, sống gởi, ở nhờ, thuộc cấp dưới của địa vị, đồng tiền. Với mình hiện tại, anh ta sẽ không cần thiết. Và vì mình là kẻ được ban ơn, do đó khi vui thì ban cho một cuộc đi chơi; lúc buồn, không thích thì hất đi, không hề thương tiếc, cũng không thèm bận tâm để ý làm gì. Một cuộc đi chơi như thế mà cho là vui được sao? Thuở ông bà mình xưa kia, người đi ăn xin thà chết đói chứ không bao giờ nhận của những người cho mà không tôn trọng, không đúng cách. Hiện tại chưa đến nổi đói rét, nhưng lại đi nhận một thứ không được tôn trọng, nhân phẩm của mình bị xem nhẹ, rẻ rúng mà cho là đẳng cấp được sao?

 

Ngược lại, bằng với những gì gia đình mình có được, chúng ta cố gắng học hành, trau dồi kỹ năng, không cần những thứ ăn chơi nhất thời đó. Sau này ra trường với tấm bằng đại học loại giỏi, có năng lực, trung chính, siêng năng, cần mẫn. Khi ấy, những người đại gia kia phải đi tìm và năng nỉ mình về làm việc cho họ. Nhìn lại trên đời có biết bao người tài sản đồ sộ, nhưng không tìm ra nhân tài đạo đức để quản lý, làm việc. Chúng ta có đủ những tố chất đạo đức, trí tuệ, năng lực thì họ sẽ phải cần mình thôi. Đồng tiền không thể mua được phẩm chất và giá trị của mình lúc này. Không đánh mất nhân phẩm, tuy nghèo nhưng vẫn có thế mạnh riêng của mình. Lúc này được họ tôn trọng, họ cần mình chứ mình không phải sống nhờ, ở gởi như trước đây nữa. Cuộc sống như thế không vui thích và cao thượng hơn sao?

 

Tuy hát không hay, nhưng khi tự hát sẽ cảm thấy thích thú hơn nghe người khác hát. Món quà giản dị, như chỉ là một chú hạc giấy tự tay cậu bé sáu tuổi mày mò gấp lại, nhưng sẽ là một món quà được yêu quý nhất trong ngày sinh nhật mẹ mình. Sống bằng năng lực trau dồi của chính tự thân, cuộc sống bao giờ cũng có ý vị, thanh cao, thích thú hơn những niềm vui nhất thời bên ngoài không chính đáng.

 

Sống là chính mình một cách cao thượng, không phải dính mắc, cố chấp vào những thành tựu mình đạt được, nghĩ đến những điều cao xa, vĩ đại… Như thế sẽ lập thành tự ngã, dễ bị các triệu chứng như những người bệnh sỉ. Đây sẽ là một chướng ngại lớn trong cuộc sống, dễ đánh mất chính mình theo một hướng khác rồi đưa đến sai lầm, khổ đau. Chỉ là chúng ta không hãnh diện hay tự đắc vào những thành quả; không cần cố chấp, dính mắc, đắm chìm vào những nơi cạn hẹp, đê hèn, đen tối, ích kỷ, vụn vặt, nhỏ nhen… thì tự nhiên trở thành một cuộc sống cao thượng đúng nghĩa là chính mình; lưu thông, thanh thoát, quảng đại, lợi ích, an vui.

 

Hằng ngày mạnh khỏe mới nương nhờ được nhiều thứ bên ngoài; chia bùi, sẻ ngọt, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đến khi nằm trên giường bệnh rồi thì mọi thứ bên ngoài đều vô nghĩa, bất lực. Sự trái ngang, cay nghiệt của cuộc đời là như thế. Lúc chưa cần thiết thì lại cho phép chúng ta giúp đỡ nhau được. Đến khi cần rồi thì có muốn giúp cũng không thể giúp được gì thêm. Có quý trọng nhau bao nhiêu cũng không thể gánh thay cho sự đau đớn của mình lúc này. Nhà cao cửa rộng, của cải ắp lẵm, tràn trề, nhưng không cứu được mạng sống mong manh. Chức lớn quyền cao, cũng không che chở, sống thay cho mình được. Lúc này, chỉ có năng lực của cái chân thật chính mình mới cứu giải được cho mình. Nếu đã nhận chân cái chính mình chân thật, hằng ngày huân sống thì tự nó sẽ có mãnh lực, định tỉnh, sáng suốt. Cái đau của thân thể bệnh hoạn không làm cho năng lực này đau được. Trong chân trời sáng biết bất động này, bóng dáng đau khổ của nội tâm không còn. Chính mãnh lực định tỉnh, sáng suốt này cho ta một khả năng ổn định, tỉnh sáng, không gợn chút bàng hoàng, lo sợ gì cả. Không phải sống để chờ bệnh, chờ chết, mà bệnh chết là điều mà ai cũng lo sợ, cho nên lấy đó để đo lường năng lực sống của mình. Khi đã sống là chính mình đúng nghĩa, trọn vẹn, chúng ta sẽ có được sức định tỉnh, an vui, lạc quan trong từng khoảnh khắc, đưa đến mọi thứ thành tựu trong đời. Lúc bệnh, gặp chuyện không may, hay đứng trước ngưỡng cửa tử thần, năng lực này giúp chúng ta hóa giải, không chi phối để cho mình phải đớn đau, lo sợ, khổ não… Sống được như thế mới cảm nhận được sự lợi lạc khi biết sống trọn vẹn bằng chính cái chân thật nơi mình.

 

 

 

VI_ LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC SỐNG LÀ CHÍNH MÌNH?

 

1/ Ít ham muốn, luôn biết đủ

 

Trong cuộc sống, chúng ta nên thành thật nhìn lại để biết mình là ai, khả năng đang ở mức nào. Nhận rõ như thế sẽ biết đủ, biết bằng lòng với những gì đang có và phấn đấu trong khả năng thực tế của mình, không mong cầu hay ảo tưởng một cách thái quá. Người biết đủ thì nằm dưới đất cũng cảm thấy an ổn, hạnh phúc. Nếu luôn tham cầu, ảo tưởng thì có nằm trên trời thì cũng đêm ngày lo lắng, bất an.

 

Hôm nay ai đó biếu mình một món quà, chúng ta tôn trọng nhưng không phải là quan trọng. Hôm sau họ đòi lại, hay nhỡ mất đi, mình vẫn bình thường. Có và không có giống nhau. Bởi xưa nay không có nó mình cũng không chết bao giờ. Bất cứ một thứ gì thiếu nó mà không chết thì chúng ta không quan trọng, không cần. Trong cuộc sống, chúng ta có quyền phấn đấu tốt nhất có thể, nhưng không nên đặt mọi thứ vào nơi quá quan trọng. Sáng suốt, mạnh mẽ, dứt khoát, bản lĩnh để sống được như thế thì không có bất cứ một thứ gì bên ngoài có thể mê hoặc làm khổ mình được, sẽ trả lại tự chủ chính thật là mình.

 

2/ Nhận ra giá trị chân thật chính mình                là lớn hơn tất cả

 

Cái khổ lớn nhất của con người là do không chiến thắng được bản thân, đánh mất chính mình, lệ thuộc mọi thứ bên ngoài. Muốn thắng được mình, không còn bị mọi thứ bên ngoài chi phối, chúng ta cần nhận ra một chân giá trị lớn hơn những thứ chung quanh đang có. Có thế mới làm chủ được ngoại cảnh, mới được sống là chính mình.

 

Khi lòng rộn ràng, cuống cuồng, sống vội thì không có nội lực, không tự chủ. Gặp duyên thuận thì hớn hở, lao theo, bằng mọi thủ đoạn để chiếm lấy về mình. Gặp chuyện trái ý nghịch lòng thì giận điên lên, không kềm chế được. Ra phố thấy món hàng ưng ý, nhưng chưa đủ tiền nên đành phải dừng lại. Cũng chưa chịu buông tha, đi tới đi lui, quẩn quanh một vòng rồi cũng đến chỗ đó nữa. Một hồi tìm đủ mọi cách và mua về cho bằng được… Đó là đã bỏ mất tính tự chủ của con người, là bỏ mất chính mình, bị ngoại cảnh bên ngoài chi phối. Tham lam, sân giận, mưu mô, lầm lỗi… do nguồn gốc này mà có ra. Từ đây lầm đường, lỡ bước, khổ đau dai dẳng, não nề, mất quyền tự chủ, không còn là một cuộc sống của chính mình nữa.

 

Trên mọi hoàn cảnh, nếu luôn bình tâm tỉnh trí, lắng lại cõi lòng, lâu ngày trở thành thói quen và sẽ cảm nhận được năng lực định tỉnh, trí sáng, lòng mình nhẹ an. Lúc này mới cảm nhận được giá trị sống này là tối thượng, mọi thứ bên ngoài trở nên bình thường, không còn đủ sức hấp dẫn hay chi phối nữa. Một khi đã có sức sống này rồi thì tùy thời vận dụng rất linh hoạt, thành công. Với một thời đại văn minh, chúng ta cũng đủ năng lực và trí tuệ để phát huy tốt. Nếu như gặp cảnh không thuận thì tâm mình vẫn bình thản, an nhiên. Đó là người biết sống bằng chính mình, tự chủ thật sự. Không có bất cứ một thứ gì bên ngoài đủ sức chi phối khiến phải mất mình, lầm đường lạc lối để phải khổ đau một cách ngây thơ, oan uổng nữa.

 

 

 

 

 

VII_ KẾT LUẬN

 

Một thoáng yên tĩnh, chúng ta đã cảm nhận được sự an ổn và niềm vui thanh thoát lạ thường. Huống nữa luôn sống với chính mình, sự định tỉnh, sáng suốt và an lạc sẽ vô bờ, khó tả hết. Ngập tràn trong một giá trị lớn lao như thế, sẽ không còn chỗ cho mọi thứ bên ngoài chen vào. Khi đã sống được là chính mình rồi thì tùy thời, tùy duyên để sống, để tùy thuận trên mọi công việc, nhưng đầy trí tuệ, đủ năng lực tự chủ, ngập tràn an vui, thì cái gì có thể chi phối khiến cho chúng ta phải sai lầm hay đau khổ được nữa? Lúc này mới cảm nhận hết giá trị “được sống là chính mình”.

 

 

 

 

Cái tôi thời nay

 

I_ DẪN NHẬP

Hiện nay, quý vị trẻ thường thích thể hiện mình theo nhiều cách mà mọi người vẫn thường gọi chung chung là muốn khẳng định cái tôi. Quý vị thường học đòi theo kiểu muốn được tự do, thỏa mái và khẳng định mình. Như là khi làm xong một công việc hay đạt được một thành tích gì thì thường đưa lên trang mạng xã hội facebook cho mọi người biết, để khẳng định sự thành công, khẳng định cái tôi của mình. Nhưng quan niệm sống thể hiện cái tôi của quý vị vẫn còn khá chung chung, mọi thứ vẫn còn mơ hồ, chưa có một phương hướng rõ ràng để biết thể hiện cái tôi như thế nào cho đúng nghĩa. Hễ nghe một điều gì đó được số đông người tung hô, nhắc đến nhiều thì mình học đòi, sống theo rồi cho đó là thể hiện cái tôi. Cứ thế mỗi ngày mọi người nêu ra một điều mới và cái tôi cũng theo đó mà bị thay đổi từng ngày theo mọi thứ bên ngoài. Cái tôi không còn chính là cái tôi đúng nghĩa của mỗi người nữa.

 

II_CÁI TÔI ẢO, THIẾU TRUNG THỰC

Nếp nhà xưa nay của mỗi gia đình thường là bố mẹ bảo gì thì con cái ngoan ngoãn vâng lời; thầy bảo trò nghe, anh kính em nhường… Nhưng hiện nay do muốn thể hiện cái tôi nên quý vị trẻ không còn nguyên vẹn như xưa nữa. Khi được bảo một điều gì, nếu thấy hợp với sở thích của mình thì nghe theo. Trái với sở thích của mình thì dù có đúng cũng chống đối và lấy cái lý gọi là khẳng định mình ra để đối chọi lại, không vâng lời.

Người xưa nói, lúc còn nhỏ, con cái nương tựa bố mẹ thì bảo gì nghe đấy nên con thua bố mẹ. Lúc trưởng thành từ 18 – 25 tuổi, là độ tuổi đang phát triển mạnh, cái gì cũng hăng hái, nông nổi; ăn chưa no, nghĩ chưa tới, xây nhà trên cát trắng, khó ai bảo được lứa tuổi này nghe theo, do đó tạm thời cho con hơn bố mẹ. Từ sau 25 – 40 tuổi thì con bằng bố mẹ. Nhưng 45 tuổi về sau, con người bắt đầu trầm tĩnh, thấy ra nhiều điều còn sai sót nên cần nương vào kinh nghiệm người lớn. Vì thế bố mẹ phải dạy lại cho con.

Mới thấy, khi còn non trẻ, tâm tính nông nổi, tri thức chưa đủ đầy thì sở thích của mình có khi đúng, nhưng cũng sẽ có vô vàn những điều chưa đúng. Căn cứ theo sở thích của mình để khẳng định cái tôi có khi chỉ là căn cứ theo thói hư, tật xấu, những tồn tại còn dở tệ mà chúng ta chưa đủ can đảm để đối diện, vượt qua. Một cái tôi như thế không chỉ là một cái tôi thiếu trung thực, rỗng tuếch, không có gì của sự thành đạt mà còn nuôi dưỡng thói quen tồi tệ của mỗi người. Lời khen sai là giặc hại, người chê đúng là thầy mình. Với lời phê bình từ bên ngoài vẫn cần đến sự trung thực. Nữa là đối với chính mình, tại sao không biết đối diện để nhìn nhận một cách khách quan, trung thực nhất? Hôm nay còn bố mẹ che chở, có gia đình nuôi nấng, sức khỏe hãy còn thì cái tôi kia còn nhờ vào những điều kiện này mà được tồn tại. Trời không nghe đất thì đất phải nghe trời. Do con cái quá can cường thì bố mẹ đành phải nhường bước cho nên cái tôi của mình tạm có chỗ đứng. Nhưng mai kia bước ra xã hội thì không dễ có người nhường mình, mọi thứ không còn thì cái tôi ấy sẽ dựa vào đâu để được còn nữa? Hiện mình chưa có gì, cuộc sống còn nương tựa vào người khác mà lập cái tôi thì không biết cái tôi ấy làm sao có thật? Tất cả chỉ là ảo tưởng! Một cái tôi chứa đầy dẫy những xấu xa, hư đốn, tồi tệ, rỗng tuếch như thế sẽ giết chết đời mình mai sau.

Chúng ta có quyền có đời sống tự lập, sống riêng theo cách của mình, nhưng phải thể hiện nó có căn bản và đúng lúc; không phải là lúc còn non trẻ chưa đủ chính chắn. Một con rắn nếu thả nó bò tự nhiên thì sẽ bò theo đường cong queo, nhưng nếu cho vào ống tre thì nó sẽ bò thẳng. Tâm tính con người chúng ta có nhiều quanh co, tà vạy, xấu dỡ. Nếu thuở bé không được uốn nắn cho ngay thẳng thì mai này sẽ trở thành những con người tàn ác, hư đốn, phá hoại chính mình và xã hội. Lúc còn non trẻ, chúng ta nên lắng nghe, học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước để rèn luyện mình. Khi trưởng thành, tri thức và phẩm chất đạo đức đầy đủ, năng lực lớn mạnh rồi, không còn một điều gì trong đời này làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu, chướng ngại không vượt qua được. Lúc này mới đủ tư cách để quyết định đời mình, biết nên làm gì là phải. Khi thực sự trưởng thành, đứng đắn, đối diện với muôn vàn sai biệt ngoài xã hội, chúng ta vẫn cảm thấy bình thường vượt qua một cách dễ dàng. Huống nữa với bố mẹ anh chị em trong nhà thì có gì mà chúng ta phải cảm thấy khó chịu? Nếu xét thấy còn tâm trạng này thì biết mình chưa thực sự trưởng thành. Với những người thân trong gia đình mà mình không thương được thì không có một tình thương nào dành cho người bên ngoài là chân thật cả. Với người thân trong gia đình mình còn hờn dỗi, thù hận mà bảo là khẳng định mình thì đó chỉ là cái tôi của trẻ con muốn nuông chiều theo thói hư tật xấu cá nhân, là cái tôi ảo, tồi tệ chứ không phải là một cái tôi của trưởng thành, cao cả, quảng đại, ích người, lợi mình.

Chúng ta có thể nhận biết cái tôi ảo này qua vài trạng thái tâm lý điển hình:

1/ Hiện nay chúng ta thấy có không ít người thích đăng tải một điều gì đó lên mạng xã hội rồi muốn mọi người like càng nhiều càng tốt. Hằng ngày lên facebook để xem coi mình được bao nhiêu người kết bạn. Nếu số lượng like càng nhiều, bạn vào trang mình càng đông thì quý vị cảm thấy tự hào về điều này rồi lấy đó làm hãnh diện, lập thành tự ngã. Nhưng trên thực tế, có nhiều vị chia sẻ, các nút like ấy có khi quý vị chỉ bấm cho có, bấm cho người khác biết mình có like, có người thì bấm theo quán tính, vô tội vạ, không cần phải nghĩ gì cả... Và những người bạn trên kia họ chưa hề nghĩ đến là phải tìm hiểu, thông cảm hay tương đồng về quan điểm gì. Không ai biết ai cả mà cũng gọi là kết bạn. Chỉ là đếm số, kể tên, trông được thật nhiều để tự hào, hãnh diện về những con số ấy. Nếu chịu nhìn lại thực tế thì chúng ta sẽ thấy, bạn bè kiểu ấy, quan hệ thì nhiều, nhưng thử hỏi hợp tác được bao nhiêu người? Bởi có hiểu biết gì nhau đâu mà hợp tác! Chưa nói đến chuyện cao xa hơn là thông cảm, sẻ chia... Thế mà vẫn có không ít người say sưa đuổi hình, bắt bóng, ngóng trông, tìm lấy những con số vô hồn để lập nên một cái tôi rỗng tuếch, vô vị.

2/Có khi do trào lưu của thời đại, của số đông người nhắc đến nên chúng ta tin theo, học đòi theo và lấy đó làm cái tôi của mình. Nhưng trào lưu và số đông chưa hẳn đã đúng. Cũng như nước lên thì bèo bị đẩy lên theo. Như khi chúng ta đang chen chúc, bị lấn ép trong một đám đông hơn ngàn người. Lúc ấy không có ý muốn chen lấn đi theo hướng nào cả, chỉ bị biển người tự đẩy mình đi về một hướng rất ngẫu nhiên. Tất cả những hành động trên đều là thụ động, bị cuốn theo mãnh lực của số đông chứ hoàn toàn chưa có gì chủ động làm theo chính mình. Đi đường, hễ thấy một đám đông nhiều người đang đổ về một hướng thì cũng chạy theo coi chứ không hề biết đó là gì. Mới thấy, con người chúng ta dễ bị cuốn hút theo số đông bên ngoài một cách mất định hướng. Nếu chúng ta vội tin theo một vấn đề gì đó mà không qua sự tỉnh táo suy xét, nhận định đúng đắn của chính mình thì nó chỉ là một sự bị cuốn theo bên ngoài. Đây không thể là cái tôi chân thật của chính mình được. Hời hợt, tin vội thì cũng sẽ vội lãng quên. Chúng ta không vội tin một điều gì dù điều đó do tiền nhân để lại; do người nổi tiếng, có địa vị, có học thức hay một đấng giáo chủ nói ra; càng không nên tin một điều gì do nhiều người đồn đãi, nhắc đến, đua đòi theo. Chỉ nên tin được điều bằng chính tâm bình, khí hòa, trí sáng để suy xét cho tường tận, tư duy cho thấu đáo, thấy đúng chánh lý và có lợi ích thiết thực cho mình và mọi người. Như thế mới là cái nhìn nhận do chính mình, không do bất cứ một điều gì bên ngoài tác động, chi phối.

3/ Có khi do một hoàn cảnh đặc biệt nào đó khiến mình bị ức chế tư tưởng cho nên tự nó trào phúng, muốn thể hiện cái tôi bản ngã của mình theo chiều ngược lại. Như trò chơi bập bênh. Bên này lên thì bên kia xuống. Và vì hết xuống rồi lại bật ngược lên. Chỉ là một sự bập bênh không tự chủ chứ không phải là một trạng thái thăng bằng có tự chủ. Cũng thế, vì bị ức chế cho nên tôi phải hành động để thể hiện tôi. Đây là cái tôi do hoàn cảnh ức chế này mà có ra. Theo thời gian, mọi thứ nguội lạnh, quân bình trở lại rồi thì cái tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Mới biết không phải là cái tôi đúng thật là mình muôn đời không thay đổi.

4/ Cũng có nhiều người do có điều kiện nên muốn thể hiện tự ngã. Như thế thì cái tự ngã này do những điều kiện thuận lợi kia mà có ra. Nếu do điều kiện mà có thì cũng sẽ vì điều kiện mà mất đi. Cụ thể khi mọi thuận lợi không còn thì cái tôi cũng không còn chỗ đứng. Nhưng có ai bảo đảm được rằng, sức khỏe, tiền tài, của cải, địa vị, quyền uy là còn hoài không thay đổi? Một cái tôi được hình thành dựa trên các điều kiện bên ngoài biến đổi mong manh như thế thì làm sao được tồn tại lâu bền, lấy gì làm chắc chắn để gọi là cái tôi chân thật được?

5/ Hoặc có nhiều vị thích thể hiện cá tính cho là cái tôi. Cá tính chỉ là một sự khác biệt, nhưng không phải sự khác biệt nào cũng đúng đắn. Có khi vì muốn thể hiện cá tính, muốn làm cho mọi thứ khác đi, không khéo đã làm cho vấn đề trở nên kỳ quặc. Hay lắm lúc cá tính không đúng nghĩa của nó mà chỉ là một sự lạ lẫm nhất thời cho vui mà thôi. Dù đúng hay sai, đa số cá tính con người chúng ta đều do cái khí trong mình nó thôi thúc, đẩy lên, không quân bình để tỉnh táo nhìn ra sự thật. Cái tôi này nó chỉ có ra khi chúng ta còn sung mãn. Đến lúc bệnh yếu, cái khí không còn, lòng mình chùn lại thì mới nhận ra, đây chỉ là một cái tôi rất trẻ con, ngây ngô, thô tháo, quê kệch, không dùng vào đâu được cả.

6/ Hoặc có nhiều vị thể hiện cái tôi vu vơ, hư ảo một cách thiếu trách nhiệm hay triệt phá lẫn nhau. Trên mạng xã hội hiện nay, khi thấy một số cá nhân có hiện tượng hay sự kiện gì nổi bật, liền bị các “anh hùng bàn phím” cũng vì muốn thể hiện cái tôi của mình nên lập tức bình luận, khen chê, ném đá... đa phần theo hướng tiêu cực. Nếu đối tượng năng lực không đủ, chính kiến không kiên định sẽ bị cuốn theo. Hệ quả là từ tích cực biến thành tiêu cực. Hoặc là nhiều vị hễ có chuyện buồn vui gì cũng đưa lên mạng, rồi cũng bị các “anh hùng bàn phím” này chen vào bàn luận một cách vô trách nhiệm về sự việc không phải là của mình, và chính họ cũng không biết bàn luận như thế để làm gì nữa. Tất cả những hiệu ứng này cho thấy sự hư ảo của cái tôi hiện nay. Đã có trường hợp không chịu nổi áp lực của dư luận và phải tự kết liễu cuộc sống. Tất cả đều do thiếu tinh tế và chính chắn, muốn thể hiện cái tôi theo cách triệt hạ lẫn nhau. Khi muốn thể hiện tức là muốn nhiều người khác biết về thành quả của mình, hoặc là hiểu và thông cảm mình. Nếu được khen thì vui thích; nhỡ bị chê thì khổ não, bực bội, chán nản. Như thế là chúng ta đang sống trên lời phê bình khen chê của người khác, đã đánh mất sự tự chủ của chính mình; tự đặt cuộc đời mình trên đầu lưỡi thiên hạ, bị bập bênh trên nhịp gõ của bàn phím thời đại và phải gánh chịu những hệ lụy từ một cái tôi rỗng tuếch, không đáng có. Là người biết cách rèn luyện năng lực, rèn luyện khả năng thích nghi tốt thì đâu cần người khác phải hiểu biết hay thông cảm mình? Như vậy thì làm gì có chuyện đưa những vui buồn lên mạng cho người khác thấy để xen vào phê bình được? Những lời khen chê đúng sai kia chỉ là những suy tưởng phù khiếm, nếu tự mình có đủ năng lực và giữ vững chính kiến thì những lời đánh giá vô tội vạ kia đâu có đáng để chúng ta phải quan tâm? Nhìn nhận và sống được như thế thì chúng ta mới hạn chế được các sai lầm, không bị những tai họa đáng tiếc.

Con người ta soi mình nơi dòng nước đứng chứ không ai soi mình nơi dòng nước chảy. Dòng nước lăn tăn thì bóng hình bị dợn cong theo gợn sóng, không thẳng. Chỉ có dòng nước phẳng mới soi bóng đúng với thực trạng của vạn vật chung quanh. Cũng thế, khi tâm ta lao xao, còn bị tác động bởi bất cứ một điều gì bên ngoài sẽ không phản ánh đúng sự thật. Khi tâm lóng lặng thì mới có cái nhìn khách quan, đúng với sự thật của mọi vấn đề. Tất cả hành động do những thứ bên ngoài chi phối rồi cuốn theo, không qua sự tư duy chính chắn của trí tuệ an định chân thật nơi chính mình thì chỉ tạo ra cái tôi hư ảo, giả tạo; dễ đưa đến cách sống sai lầm rồi tiếc nuối, ân hận, đau khổ về sau.

 

III_ KHOE KHOANG, KHẲNG ĐỊNH MÌNH LÀ CHƯA ĐƯỢC TINH TẾ

Khi ngợi khen một người nào đó thì có nghĩa là đã ngầm chê bai một người khác. Đề cao mình là phô trương bản ngã, là đã có tâm hạ bệ mọi người trong xã hội rồi. Xưa kia trong những câu chuyện hàn huyên, khi nghe người khác nói về thành tích của mình nhiều quá thì trong lòng đã cảm thấy hổ thẹn, thô tháo. Huống nữa là tự mình khoe mình! Người xưa tinh tế là như thế. Thời nay thì sao?

Lúc mới lớn, lần đầu tiên đi với bạn bè bước vào quán cà-phê, chúng ta cảm thấy rụt rè, e dè, hổ thẹn, luống cuống, không tự nhiên. Bản chất ban đầu của mỗi con người bao giờ cũng tinh khôi và sáng trong là như vậy. Nhưng khi đã vào quán lâu ngày thành lờn rồi thì cảm thấy rất thường, thậm chí còn đua đòi đẳng cấp, tìm tòi những điều kỳ lạ mới thỏa mãn thị hiếu của mình. Mới biết, bụi trần gian đã làm chai lỳ con người ta oan uổng đến mức nào! Tương tự, buổi đầu tinh thần con người còn trong sáng, tinh tế, lịch sự như chiếc áo trắng không một nếp nhăn hay lấm chút xíu vẩy bùn. Đối với những thói hư tật xấu thô tệ, chúng ta không thể nói ra hay nghe qua tai được, nói gì đến phạm vào. Hoặc khi nghe ai đó khen mình thì cảm thấy hơi bị lố bịch, vô duyên. Nhưng theo ngày tháng, chúng ta tiếp xúc với những văn hóa đồi trụy, nhan nhản những thói hư tật xấu, có người đã dần bị thô kệch, bắt đầu ăn nói thiếu cân nhắc, tự phô trương mình, chê bai người khác, học đòi theo thói hư tật xấu của thú tính trong người. Lâu ngày trở nên chai lỳ, thô tháo; đánh mất sự trong sáng, lãng quên giá trị khiêm nhường, kín đáo, tinh tế, nghiêm chỉnh, có nhận thức, có tư cách tối thiểu của một con người tự lúc nào chẳng rõ.

Trong cuộc sống hiện nay, không cần quan sát, chúng ta cũng dễ nhận thấy nhiều điều thiếu tinh tế này. Sau một cuộc đua đã được phân định kẻ thắng người bại. Người chiến thắng bao giờ cũng rất vui, hô hào, thể hiện ăn mừng chiến thắng theo đủ kiểu, không cần biết bạn mình bị thất trận buồn đến mức nào. Chỉ biết có mình mà không hề biết đến cảm xúc của mọi người bên cạnh. Nếu được mời dự trong bàn tiệc mừng chiến thắng, chúng ta không tin được rằng người này thực sự quan tâm mình một cách vô điều kiện, trong khi người bên cạnh của họ khổ đau mà họ không hề hay biết. Nếu như một lần như thế, nhiều lần như thế; hoặc là một người như vậy, nhiều người khác cũng bắt chước như vậy; theo thời gian sẽ tạo ra một xã hội với nhiều người vô cảm, không còn biết quan tâm chia sẻ, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.

Cuộc đua thì phải có người thua kẻ thắng. Không có người thua kẻ thắng thì không thể gọi là một cuộc đua. Nhưng trong cuộc sống, chúng ta chỉ tạo nên thi đua khi cần khuyến khích sự phấn đấu của mỗi người. Sự khuyến khích chỉ có giá trị với người chưa sẵn sàng, còn thụ động. Với một người đã sẵn sàng, siêng năng, luôn phấn đấu mọi lúc mọi nơi thì không cần đến cuộc đua. Họ sẽ cùng với mọi người để đi đến một thành tựu, xây đời.

Làm một bài văn chỉ để được có điểm an toàn mà những ý tưởng trong đó không dùng được gì vào đời sống, xã hội thì đó là một bài văn chết ngay từ khi chúng ta đặt bút lên viết. Cuộc đời không cho chúng ta rảnh để tạo nên những cuộc thi đua một cách vô bổ như trò đùa trẻ con. Mà các cuộc đua đều mang ý nghĩa thể hiện sự trải nghiệm, cách hành xử trong cuộc sống. Phải có đủ nhận thức vượt ra ngoài cái khung thắng và bại bình thường của một cuộc đua thì chúng ta mới có được một sự trải nghiệm đột phá thành công trong cuộc sống. Thời nay người ta vẫn ra những bài toán mở. “Trên chiếc tàu biển có chở 45 con cừu. Tình cờ 5 con nhảy xuống biển. Hỏi anh thuyền trưởng bao nhiêu tuổi?”. Nếu tư duy theo một chiều, nhất thiết phải theo đề toán để giải là anh thuyền trưởng 40 tuổi thì sẽ bị sa bẫy, sai lầm. Phải có một trí tuệ đủ lớn dám nhìn thẳng vấn đề để nói đề toán bị sai thì mới nhận thức đúng về đề toán. Chính sự lạ kỳ của bài toán đã tạo nên tính đột biến cho người học, tạo nên một trí tuệ linh động, phát minh. Cũng thế, không phải bao giờ cũng cần phải có phân định thắng và thua thì cuộc sống mới thăng tiến được. Và không phải trong đời ai ai cũng nghĩ đến thắng và thua. Có khi chúng ta cũng nên tư duy, nên có tính đột biến vượt ngoài thắng và thua để nhận ra rằng, chiến thắng cao thượng là nâng đỡ người khác cùng chiến thắng thì cuộc sống sẽ trở nên hài hòa, sống động hơn nhiều.

Ham hố chiến thắng chỉ phù hợp với những người còn tính khí hiếu động, sôi động. Không có một chiến thắng nào dùng được mãi suốt đời. Dù có một đống tài sản khổng lồ cũng không xài được khi có chuyện buồn đau, bệnh hoạn, sắp chết. Nó không phải là cái quá lớn như mình nghĩ để rồi phải quan trọng đến mức quên cả tình người. Một chiến thắng mà quên cảm giác của người khác thì chưa phải là chiến thắng đích thực. Nếu lùi một chút để giúp mọi người cùng tốt, có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận được niềm vui trọn vẹn hơn. Chúng ta vẫn thường nghe các nhà văn nói, sức mạnh chân chính không phải là giẫm lên vai của người khác mà phải nâng đỡ người khác trên đôi vai mình. Giẫm đạp lên nhau để sống, có lẽ không phải là lối sống của người tinh tế, có nhận thức. Biết nâng đỡ người khác trong khả năng của mình, sẽ cảm nhận được niềm vui sâu sắc tự đáy lòng và từ nhiều người mang lại. Phần quan trọng nhất trên cơ thể con người là cái vai. Không phải chỉ để gánh vác mà còn là nơi để cho người khác tựa vào khi họ khóc. Một lúc nào đó tâm hồn thanh thản, an tịnh; tận trong sâu thẳm của lòng mình, mỗi người chúng ta sẽ tự nhận ra, chiến thắng không phải là tất cả, mà ý nghĩa thật sự của cuộc sống là ở chỗ ta giúp đỡ người khác cùng chiến thắng, dù có phải chậm lại một bước. Ý thức được như thế thì đâu có lòng tự đắc lập nên cái tôi cá nhân? Được vậy thì tính người sẽ được khai mở, người người hoan hỷ, lo gì mình không được vui? Chúng ta cần có những khoảng lặng nhất định trong tâm hồn mình thì mới cảm nhận được sự tinh tế và vĩ đại này.

 

IV_ THỂ HIỆN CÁI TÔI LÀ MỘT CHƯỚNG NGẠI, TỰ CHẶN ĐỨNG BƯỚC TIẾN CỦA MÌNH

Một bông hoa chỉ đẹp khi vừa hé nở, các cánh hoa hãy còn khum khum úp sát vào nhau như vẫn ngập ngừng chưa muốn nở hết. Mọi việc sẽ có ý vị hơn khi chúng ta còn tâm phấn đấu. Nếu như cảm thấy tự mãn, cuộc sống sẽ bị chùn lại, vô vị, không còn chí khí để phát huy.

Có một doanh nhân thành đạt, khi được nhà báo hỏi: “Anh có thể kể lại những thành tích của mình đã đạt được cho mọi người nghe?”. Anh ta cười và đáp: “Điều đó có cần thiết không?”.

Khi làm xong một việc gì mà mình không để ý đến thành tích thì chúng ta sẽ hăng hái để tiếp tục các công việc khác. Cứ thế, chúng ta làm rất nhiều công việc có ích cho đời mà niềm vui vẫn chưa thấy đủ, vẫn phấn phát cống hiến hết mình cho đến tận hơi thở cuối cùng. Ngược lại, nếu vừa cảm nhận thành quả thì tự mình cảm thấy đã làm được nhiều việc rồi, cần nghỉ ngơi, hưởng thụ rồi làm nữa. Do đó, thành quả và công việc sẽ bị giới hạn, không được phát huy đúng mức của nó, nếu không muốn nói là sự phát triển đã bị chặn đứng, không còn cơ hội để tiến triển nữa. Cống hiến hết mình là một đức tính cao thượng. Nhưng hưởng thụ tối đa là hạng người quá quan trọng vật chất, lệ thuộc vào mọi thứ bên ngoài một cách thái quá thì làm sao có ý chí, hay những ý tưởng gì cao thượng hơn ngoài những thứ đang có?

Khi mang những thành quả ra để thể hiện cái tôi, để khẳng định mình là ngầm thỏa mãn với thành tựu của mình, sẽ cản bước tiến, ý chí phấn đấu không còn. Như thế, những thành quả kia chỉ là cơm nguội, sẽ dần đưa vào quá khứ và còn trong hoài niệm, tưởng tượng mà thôi. Không nên ngủ quên trên chiến thắng mà phải luôn phấn đấu. Nếu không tự mãn vào những thành quả mình đạt được thì chúng ta sẽ làm được nhiều điều tốt đẹp hơn cho cuộc đời. Phải may mắn lắm mới có được những thành tựu trong đời. Nhưng có dám quên những thành tựu của mình đi thì sự may mắn ấy mới được trọn vẹn.

 

V_ CHẤP NGÃ, LẬP NÊN CÁI TÔI
LÀ TỰ NHỐT MÌNH

Đã có một cái cố định là tôi, thì tôi không thể là cái khác. Ví dụ, khi chấp tôi phải là người của miền này thì sẽ bị nhốt mình vào những đặc điểm của một con người gọi là miền đó. Như thế tôi sẽ không thể là một người muốn học hỏi những điều hay của các miền khác. Như là, khi chấp tôi là miền Trung thì không thể là miền Nam, miền Bắc. Tôi là miền Nam thì không thể học gì ở miền Bắc, miền Trung. Và tôi đã là miền Bắc thì cũng không chấp nhận học hỏi gì ở miền Trung, miền Nam nữa… Đó là do cố chấp vào hình thức, dính kẹt bên ngoài nên bị đóng khung, vướng víu. Hễ ai xúc phạm đến vùng miền của mình, đến cái tôi cá nhân thì liền tức giận, không kềm chế được. Đây là do cố chấp nên đưa đến tai hại, thu hẹp tri thức, dễ bực tức, ngu tối khi cái được gọi là mình bị xúc phạm. Nếu chúng ta không cố chấp, không đóng khung hay lệ thuộc vào bất cứ hình tướng gì bên ngoài thì sẽ linh hoạt và sáng suốt hơn. Không phải mình là hạng người ba phải không có nhận định. Chúng ta có nhận định và lập trường rất hẳn hoi, rõ ràng, nhưng không câu nệ, lệ thuộc hay chấp cứng vào một điều gì để dựng lên một cái gọi là tôi. Như thế sẽ được thông thoáng, sáng suốt và tự tại hơn nhiều.

Anh A sẽ có một đặc điểm riêng để nhận biết đó là anh A, không lẫn với người khác. Anh A không thể sao chép kiểu cách của một anh B nào đó, nó sẽ trở nên đơn điệu, trơ trẽn, mất tự nhiên. Mỗi một con người đều có một tố chất rất riêng. Giọng văn của người này, không thể là cách hành văn của người khác. Sở trường của anh B, không hẳn là việc mà anh C làm tốt được. Làm mới bài hát, làm mới nhận thức, cách giảng dạy, làm mới mọi thứ trong cuộc sống chính là phát huy sở trường của mỗi người để cái ưu điểm, thế mạnh, tố chất riêng có của họ được bật lên, chứ không phải là thể hiện cái tôi như mọi người vẫn nghĩ. Bàn tay có năm ngón bằng nhau sẽ là một bàn tay quái dị, không đẹp. Cuộc sống vốn nhờ vào nhiều sắc màu khác nhau khiến cho nó trở nên đa dạng và sinh động hơn. Nhưng không phải chấp vào một cái gì đó là tôi để lập nên tự ngã, như thế sẽ bị ngăn ngại, không hòa điệu được những sự thật chung quanh mình.

Ví như một anh chàng ăn rồi quét dọn sân vườn, lau nhà quá sạch và đóng kín cửa lại, không muốn cho ai vào. Ngôi nhà sạch ấy chỉ là ngục tù nhốt lấy anh ta. Trong đời vẫn có không ít người có cuộc sống trong sạch, thanh cao, có hiểu biết và may mắn đạt được một số thành tựu nhất định. Nhưng lại quá chấp vào thành quả của mình, lập thành một cái tôi tự ngã, không chan hòa, thông cảm, hiểu biết mọi người. Dần dần bị cô lập, không mở mang kiến thức, không quen sinh hoạt với số đông người, không làm được gì lớn hơn ngoài chút ít thành quả mình đang sở hữu đã quá cũ kỹ. Hiện nay, chúng ta không khó để bắt gặp những người tương tự như vậy. Đời sống của họ khá nghiêm túc, cao thượng, ai cũng quý trọng, nhưng khi ra lãnh đạo số đông người thì không kham nỗi. Hoặc là bị mọi người phản đối, lên án do quá cố chấp, không trông xa nhìn rộng, thiếu hiểu biết và cảm thông trong xử lý công việc. Hoặc là chính mình không hòa điệu, không thích nghi được với nhiều tư tưởng tập thể nên bị căng thẳng, quá sức chịu đựng của mình. Đó là do chấp vào thành quả rồi lập nên một cái tôi khác người, đóng khung, lập dị, cố chấp. Chấp vào cái tôi, tự cao, tự đại, mang tính cá nhân quá thì lòng mình không thông thoáng, trí mình không đủ lớn để cảm thông được với số đông người, không tùy thuận được với nhiều hoàn cảnh phức tạp khác nhau trong cuộc sống. Chính cái chấp tôi này tự đóng khung mình khiến cho chúng ta không làm được gì lớn hơn vượt ra ngoài cái tôi vỏ ốc ấy. Cái tôi của bản ngã tự tôn đó sẽ là ngục tù và chúng ta tự biến mình trở thành một tù nhân từ thể xác cho đến khối óc trong ngục tù vô hình ấy.

Không có mục tiêu để cố gắng phấn đấu thì cuộc đời mình sẽ bị thả trôi, vô ích. Nhưng nếu cố chấp thái quá vào mục tiêu để lập nên cái tôi riêng lẻ của bản ngã thì cũng tai hại cho mình vô kể. Tất cả những nỗ lực tự thân của mỗi một người đều rất đáng được trân quý, thán phục. Nhưng nếu chấp vào thành quả rồi tự mãn, tạo nên bản ngã riêng tư thì thật là đáng tiếc. Bởi đó là cội nguồn sản sinh ra bao nhiêu tai hại khó lường, biến sự nỗ lực đáng trân quý của mình trở thành điều kiện để chúng ta sống sai, đi vào ngõ cụt.

Một cây không thể tạo nên khu rừng, và rừng không phải chỉ có một loại cây. Tuy có nhiều loại cây khác nhau, nhưng phải nương vào nhau mới thành một khu rừng được. Cái tôi, khẳng định mình có cái riêng khác, nghĩa là phát huy sở trường, đặc điểm riêng có của mình một cách tốt nhất, nhưng hài hòa, thể nhập với cộng đồng chứ không phải chấp vào sở đắc để lập nên một cái tôi theo kiểu tự ngã riêng biệt.

 

VI_ CÁI TÔI CHÂN THẬT, VĨ ĐẠI, PHÓNG KHOÁNG, TRÍ TUỆ

Mọi người vẫn thường cho rằng, mỗi người đều có quyền chọn cho mình một lý tưởng sống và lý tưởng nào cũng tốt. Điều này chỉ đúng ở cấp độ phổ thông, nhưng nếu phân ngành chuyên sâu thì cần phải có một cuộc trắc nghiệm để không bị nhầm lẫn.

Chúng ta không thể đặt niềm tin trọn vẹn tuyệt đối vào một người mà họ chỉ chơi với mình khi chúng ta có mọi thứ tiền tài, địa vị, quyền uy, của cải. Còn khi tất cả những thứ ấy vuột khỏi tầm tay, chúng ta khổ sở thì họ lại bỏ mình ra đi. Cũng thế, một lý tưởng mình chọn để sống, lý tưởng ấy phải trung thành tuyệt đối với mình. Khi vui, lúc buồn và cho cả đến khi sắp chia tay cuộc đời, nó phải luôn có mặt và bảo vệ được cho chúng ta. Cụ thể, trên cảnh thuận, nó sẽ giúp cho mình không động tâm vui quá và cũng không bị buồn da diết khi gặp cảnh nghịch ý trái lòng. Bởi trên cảnh vui chúng ta khởi tâm vui theo được thì cái tâm khởi đó sẽ được huân dần thành thói quen và sức mạnh, để rồi khi gặp cảnh buồn nó cũng khởi lên, dao động và buồn theo chứ không thể kềm lại được. Nếu chúng ta dễ buồn dễ vui thì dễ bị hoàn cảnh của cuộc sống chi phối, sẽ đưa đến khổ đau. Một lý tưởng chỉ sống được trên cảnh thuận mà không bình ổn được trên cảnh nghịch thì chưa phải là một lý tưởng trung thành chung thủy với mình. Chưa nói đến, lý tưởng chân thật này phải luôn tồn tại và không bị chi phối bởi bất kỳ hoàn cảnh thuận hay nghịch nào cả. Một điều kiện thứ ba nữa là khi nằm trên giường bệnh, đối mặt với tử thần, lý tưởng ấy phải giúp chúng ta tự thấy mình an ổn, không bàng hoàng, lo sợ. Không phải sống để chờ chết, nhưng chết là điều mà ai cũng có ít nhiều lo sợ cho nên lấy đó để làm thước đo. Một lý tưởng phải được trắc nghiệm, đảm bảo được ba điều kiện trên thì nó mới trung thành với mình, mới đảm bảo có giá trị cho chúng ta tin tưởng tuyệt đối và sống trọn vẹn với nó được.

Bất kỳ một lý tưởng, niềm vui hay sở thích gì, nếu do các tác động từ bên ngoài như là hoàn cảnh, tiền tài, địa vị, quyền uy, con người cho đến từ một đấng giáo chủ mà có ra thì đều là những lý tưởng, niềm vui có điều kiện. Do cái này có nên cái kia có. Và rồi cũng sẽ do cái này không cho nên cái kia cũng trở thành không. Cụ thể là khi mọi thứ bên ngoài kia mình không còn chạm đến được nữa thì cái gọi là lý tưởng, niềm vui, sở thích kia cũng không còn tồn tại. Lúc này mới biết cả đời chúng ta chỉ sống nhờ, ở gởi, vay mượn, tin vào để sống theo mọi thứ bên ngoài chứ chưa có cái gì thật là chính mình cả. Hạnh phúc chân thật trước tiên phải là một nguồn hạnh phúc không do điều kiện mà có. Nếu vì cái này mà tôi có được hạnh phúc thì cũng sẽ đến lúc cái này không còn và hạnh phúc cũng tan biến theo mây khói. Một niềm hạnh phúc bị biến đổi theo các điều kiện bên ngoài thì làm sao gọi là chân thật được?

Lúc nào đó có thể, chúng ta hãy tạm gác lại mọi thứ đang có, phút chốc lắng lại lòng mình thì sẽ cảm nhận được sự lóng lặng, sáng suốt, an lạc vô biên. Cái ấy chính nó tự sẵn đủ nơi mỗi người, không do một thứ gì bên ngoài tác động mà có được. Mỗi ngày thực tập một chút. Lâu dần thành quen, không chờ đến lúc rảnh rang mà chúng ta sẽ ứng dụng được trên mọi công việc. Theo thời gian, năng lực này tự lớn mạnh, tự mình cảm nhận được một năng lực đặc biệt nơi chính mình. Nó là một cội nguồn trí tuệ sáng suốt, định tỉnh kiên cố, an lạc ngập tràn, không còn chỗ cho mọi thứ bên ngoài xen vào chi phối được nữa. Nó đủ lớn cho chúng ta tự tại trên mọi thứ. Những buồn vui, thành bại trong đời này không còn đủ giá trị chi phối mình. Lúc này, không muốn tự do tự tại cũng được tự tại. Một niềm an vui tự tại ngay cả khi có việc, có mọi thứ và khi không việc, không một thứ gì. Muốn làm giàu cũng được; và khi không có một vật gì cũng bình thường, hoan hỷ, tự tại an ổn như nhau. Bằng tâm này để sống, để hành xử và làm việc, quý vị mới cảm nhận được giá trị vô biên của nó. Càng sống, càng phát minh giá trị không có giới hạn. Như người uống nước, nóng lạnh tự biết, chỉ người trong cuộc mới cảm nhận hết giá trị. Với năng lực lớn này sẽ giúp chúng ta an nhiên, tỉnh táo khi sắp ra đi.

Khi tay ta bận nắm lấy một vật này thì không thể cầm nắm được vật khác. Nếu để tay thong thả thì tùy thời muốn nắm lấy bất kỳ vật gì cũng được. Chấp vào một cái gì đó cho là tôi thì cái tôi ấy bị khu biệt giới hạn trong ấy, không còn chỗ để tiếp thu cái khác. Khi mình không là gì cả mà chỉ là một tâm thái rỗng rang, sáng biết, năng lực định tỉnh vô bờ thì sẽ biết khắp; tùy nơi, tùy lúc để vận dụng một cách thông thoáng, tự tại, không có gì làm ngăn ngại che lấp mình được. Chúng ta không thể biết được những gì mình chưa biết. Nếu chấp vào một cái cho là tôi thì cửa tri thức sẽ bít lấp, không còn cơ hội để học được vô vàn những điều hay khác. Sống bằng tâm thể thênh thang rộng lớn, bằng cội nguồn trí tuệ vô biên này sẽ cho chúng ta một khả năng phát minh vô tận. Những gì đã có, chúng ta kế thừa, phát huy, tái tạo, làm tốt hơn. Nếu là chưa có thì phát minh, sáng tạo, làm mới. Một cái tôi trí tuệ vĩ đại như thế mới xứng đáng, đủ lớn cho chúng ta sống về an ổn và thích thú được. Đây tạm gọi là cái tôi chân thật, nhưng không phải có một cái gọi là tôi để chấp vào đó. Vừa có tâm chấp là đã rơi vào hạn lượng, có giới hạn, không còn là một cái tôi vĩ đại không bờ mé này nữa.

 

VII_ CỘI NGUỒN CỦA
MỌI THÀNH TỰU

Khi sống được bằng cái tôi chân thật, bằng trí tuệ gốc này, diệu dụng sẽ vô ngần. Gần nhất, chúng ta sẽ cảm nhận được ba đặc điểm cơ bản: Sức mạnh định tỉnh vô song, trí tuệ sáng biết trùm khắp và cội nguồn an vui vô tận. Thông thường chúng ta tư duy logic thì chỉ tư duy một lúc vài ba mệnh đề, nhiều hơn nữa sẽ bị rối ren và quá sức, có khi còn bị trạng thái buồn nôn, muốn ói mửa. Nhưng khi buông xuống mọi thứ để được trong lặng thì tất cả tự nó ùa về cùng một lúc rất tự nhiên, khiến chúng ta không ngờ được. Mới hay ra, cái sáng biết này là vô biên, còn cái có nghĩ suy kia là hữu hạn. Như khi đùa vui trong đám trẻ đông thì chỉ thấy được vài chục đứa gần mình nhất. Nhưng nếu đứng trên lầu cao bình tâm nhìn xuống thì sẽ thấy hết toàn bộ bọn trẻ, không nhầm lẫn một đứa nào. Cũng thế, trí tuệ chân thật này là một cội nguồn sáng biết trùm khắp, vượt lên trên tất cả, không động và an lạc vô cùng.

Tất cả nhận định, triết lý, phương cách, kỹ năng… đưa đến mọi thành tựu trong đời đều từ trí tuệ, không có một cái gì từ trên trời rơi xuống. Trở về sống bằng cái tôi rỗng suốt, an định mà sáng khắp này là trở về cội nguồn trí tuệ gốc nơi chính mỗi người, là trở về với cha đẻ ra mọi thứ. Có được cội nguồn này, chúng ta sẽ có tất cả. Tùy vào từng trường hợp, trí tuệ gốc này sẽ cho chúng ta biết nên làm gì là hợp lý để đưa đến kết quả hoàn hảo nhất. Ví dụ muốn quản trị kinh tế, quản trị cuộc đời, chúng ta chỉ cần quản trị hai điều cơ bản, đó là quản trị bản thân và quản trị con người. Muốn quản trị bản thân tốt thì chính mình phải chiến thắng được mình; và cội nguồn trí tuệ này sẽ giúp chúng ta làm tốt điều đó. Cụ thể, khi sống bằng nguồn năng lượng định tỉnh, trí tuệ sáng khắp và an lạc vô bờ, chúng ta như được ăn no một món ngon thượng hạng, những thứ khác không còn đủ giá trị chi phối mình nữa. Như vậy là đã làm chủ bản thân, đồng nghĩa đã quản trị được bản thân của mình một cách trọn vẹn. Cũng nhờ vào nguồn trí kia, chúng ta biết tùy vào từng người, tùy lúc, tùy việc nên làm gì và làm như thế nào cho thích hợp. Đó là người thầy cho chúng ta biết kịp để quản trị con người một cách hoàn hảo nhất. Như thế mọi việc tự thành tựu.

Một con sâu sống trong thảm lá xanh thì hình nó sẽ có màu xanh. Nếu ở thân cây khô thì nó phải chuyển sang màu lam như thân cây vậy. Đó là quy luật nương vào tự nhiên để được bảo vệ, sinh tồn. Đối trước một xã hội cũng vậy, dù bị cuốn lôi hay chỉ là tùy duyên để làm một điều gì đó cao thượng, tất cả chúng ta đều phải khéo hòa đồng trong một cộng đồng mà mọi người đang sống. Dù chỉ là lo cơm áo gạo tiền, hay làm những việc cứu người, giúp đời; muốn được thành tựu, chúng ta cũng cần phải biết những điều cơ bản. Mà sống về với cái tôi của cội nguồn trí tuệ chân thật này, sẽ cho chúng ta biết được những điều kiện cần và đủ ấy. Một sự thành tựu có căn bản chứ không phải ngồi đó để mơ tưởng, cầu may. Trước mắt, muốn thành đạt, chúng ta phải tự rèn luyện mình hội đủ ba điều kiện căn bản: Trí tuệ, năng lực và sự may mắn.

1/ Trí tuệ: Tất cả những gì học được từ gia đình, nhà trường và xã hội vẫn chưa đủ. Bởi có rất nhiều khi làm xong mọi thứ rồi, đến lúc lắng đọng, nghỉ ngơi, chúng ta thường phát hiện ra nhiều điều sai sót. Nếu trí tuệ đã đủ thì không sai sót, mà còn sai sót nghĩa là chưa được đầy đủ. Và khi yên lắng thì chúng ta tự phát hiện ra những điều sai sót kia. Nếu làm xong rồi, chờ đến tối yên lắng mới biết thì đã muộn. Muốn có được trí tuệ đầy đủ, chúng ta phải yên lắng kịp thời ngay khi hành xử. Ai cũng biết thế, nhưng mọi người chưa thể làm được như thế vì chưa biết cách dồn vốn trí tuệ này, chờ đến khi gặp việc mới nhớ đến dùng thì làm sao kịp được? Muốn có vốn liếng trí tuệ sẵn sàng, chúng ta phải lắng lòng, tỉnh giác trong mọi lúc, trên mọi sinh hoạt. Theo ngày tháng, tiềm năng này tự hình thành và lớn mạnh trong mỗi chúng ta. Gặp việc liền được vững vàng, định tỉnh, sáng suốt; đưa đến thành tựu một cách trọn vẹn, tốt đẹp.

2/ Năng lực: Năng lực có sẵn trong trí lực. Nếu chúng ta nhận và sống trọn vẹn bằng trí tuệ chân thật thì trí lực, năng lực tự có. Nếu chưa như thế thì mỗi người phải biết tự rèn luyện mình. Bằng cách, bất kỳ một điều gì cảm thấy hơi khó chịu thì phải biết đối diện và hoàn thành tốt. Một đôi khi mình có thể đánh Đông dẹp Bắc; luận cổ, bàn kim thao thao bất tuyệt; nhưng bảo quét nhà thì cảm thấy cái chổi nặng hơn cả tấn, bảo nấu bữa ăn cho gia đình thì cảm thấy khó hơn đi đánh ngàn quân giặc ngoài biên thùy… Như thế là năng lực của chúng ta chưa đủ lớn để chiến thắng, vượt qua mọi thứ trong đời. Những chuyện nghe qua như tầm thường, nhưng nó lại là những lỗ hổng của ý chí, nghị lực, kiên trì, nhẫn nại, chịu khó… đưa đến sơ hở, chủ quan, phá hỏng thành quả to lớn của mình trong chớp mắt. Là người biết hoàn thiện mình, không luận đó là việc lớn hay việc nhỏ, chúng ta phải dám đối diện với những gì mình còn thấy ngăn ngại để phấn đấu vượt qua. Nếu thấy ngại học toán thì phải dốc tâm vào giải toán cho đến khi nào cảm thấy thích thú làm bài tập mới thôi. Nếu là một thanh niên sĩ diện, dễ bị ngại ngùng mắc cỡ trước những công việc mọi người cho là tầm thường thì cứ xách giỏ đi chợ, mua đồ về lo cho gia đình một bữa ăn thật tự nhiên. Gặp một người không ưa, mình cũng phải đối diện cho đến khi nào cảm thấy bình thường mới được… Không phải cần làm hay để làm những công việc nhỏ nhặt đó, mà đây là cách để rèn luyện khả năng thích nghi của mình. Một khi rèn luyện đã được thành tựu rồi, chúng ta mới nhận ra giá trị cần thiết và lớn lao của nó. Cuộc thế có như thế nào đi nữa, chúng ta vẫn giữ được thăng bằng, không ngại. Ngày mai dù có ra sao nữa, chúng ta cũng cân đối được cuộc sống, chẳng sao. Không còn tâm trạng lo ra hay sợ sệt vào ngày mai nữa. Bằng cách này, tự mình vô hiệu hóa được tất cả mọi thứ, không còn một cái gì chi phối hay có thể ngăn chặn được bước tiến của mình. Có vậy, chúng ta mới có được năng lực vững vàng để đưa đến thành tựu mọi công việc trong cuộc sống.

3/ May mắn: May mắn là một cách nói chung chung, chính xác đó là phúc phần của mỗi người. Muốn có phúc, không phải do bố thí nhiều mà lòng mình phải rộng lớn. Chúng ta vẫn thường nghe nói, của cho không bằng cách cho. Nếu cho người khác cả tỷ đồng mà lòng mình tính toán nhỏ hẹp, không tôn trọng họ hay cho rồi hối tiếc thì phước ấy vẫn có giới hạn. Nhưng giúp đỡ người khác một đồng mà lòng mình tôn trọng, hân hoan thì phước ấy sẽ to lớn vô cùng. Khi lòng đủ rộng thì chúng ta làm được nhiều điều một cách tự nhiên, không tính toán cho nên phước ấy sẽ vô lượng. Gặp chuyện phải tranh cãi, chúng ta thoáng rộng tâm hồn, bỏ qua. Gặp người già qua đường, chúng ta tiện tay dìu cụ. Gặp một cây đinh, tiện tay nhặt lấy, cất đi. Lên xe, người khác cần chỗ ngồi tốt, mình nhường cho họ. Họ ngồi chỗ ấy được vui, chúng ta cảm thấy vui sướng trong lòng… Lòng cứ thoáng rộng như thế, chúng ta sẽ có được vô lượng vô biên phước đức. Thử làm một phép kiểm tra lòng mình thì sẽ biết được có phước hay không liền. Khi gặp mọi người, chúng ta quan tâm họ hay mặc kệ, phớt lờ, không cần hay biết. Hoặc gặp một ai đó có địa vị và giàu sang hơn mình, chúng ta nghĩ: “Mình cần nhờ gì ở họ?” hay: “Họ có cần mình giúp đỡ gì không?”. Nếu nghĩ “cần gì ở họ”, đó là chúng ta đang sử dụng bớt phần phước đức của mình. Còn nghĩ “mình giúp được gì cho người khác”, sẽ được thêm phần phước đức. Hưởng thụ thì tiêu hao phước đức. Cống hiến thì phước lại càng được tăng thêm. Cứ như thế, làm được nhiều việc trong khả năng mình, nhưng không tính toán, mong cầu hay tự mãn; cộng thêm lòng an tịnh thì phước đức sẽ tự rộng lớn. “Có phần thì không cần gì lo”. “Có đức thì mặc sức mà ăn”. Đây là nguồn gốc của sự may mắn đưa đến mọi thành tựu.

Ba vấn đề vừa nêu trên là ba yếu tố cơ bản, là điều kiện cần và đủ để đưa đến mọi thành tựu trong đời. Nhưng muốn đạt được ba yếu tố cơ bản này một cách trọn vẹn thì phải nhận ra và sống được bằng trí tuệ chân thật an định kia. Mới biết, cái tôi chân thật này là cội nguồn của mọi thứ từ tinh thần đến vật chất. Có được một trí tuệ và sức định tỉnh đủ lớn như thế, chúng ta sẽ nhận định được mặt ưu và mặt khuyết của mỗi miền Nam Trung Bắc, thấy ra được những điều hay và chưa hay của kim cổ đông tây. Biết học lấy điều hay, rút tỉa kinh nghiệm những điều còn hạn chế, đồng thời phát minh được những điều chưa có. Như thế, chúng ta sẽ là một trí tuệ vượt lên trên nhân loại, thâu tóm cả Đông Tây kim cổ tinh hoa; tiêu dung, học lấy được tất cả; hòa đồng nhưng không bị hòa tan, mất mình. Cái tôi như thế không vĩ đại và xứng đáng hơn sao? Căn cứ vào đó để làm nên tất cả, xây dựng nên cuộc sống thì mọi thứ luôn tươi mới; đầy đủ nghị lực và trí sáng bất động để làm sinh động cuộc đời này.

VIII_KẾT LUẬN

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”. Nhạc Trịnh Công Sơn đã đi vào lòng người. Khi cất tiếng hát, ai cũng cảm thấy như đang nói lên cõi lòng của chính mình vậy. Từ một người đạp xích-lô trên đường phố, cho đến một ca sĩ chuyên nghiệp, ai cũng có thể tùy hứng nghêu ngao một vài câu trong bài hát bất cứ khi nào thấy thích. Nhưng để trình diễn xuất sắc, hát hay nhạc Trịnh thì không có được nhiều người. Cũng thế, bản chất trong sáng tinh khôi, an tĩnh, rất trí tuệ nơi chính mỗi người ai ai cũng sẵn có. Dù muốn hay không, hoặc ít hay nhiều, mọi người cũng đang sống bằng nó. Nhưng đa phần chúng ta chỉ nhận chân được phần nào hoặc có người thi thoảng mới thoáng chợt hay ra. Không có được nhiều người có đủ điều kiện để nhận ra và sống trọn vẹn bằng chính nó. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta nghi ngờ về cội nguồn trí tuệ vô biên này. Sử dụng được ít hay nhiều là do sự dốc tâm khám phá và sống về của mỗi người. Một khi đã nhận ra được giá trị cao thượng và chân thật tuyệt đối của nó, chúng ta sẽ hào hứng để khám phá và sống về bằng cái tôi chân thật đầy ý vị này.

 

 

Thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử

 

 

 “Trăm năm tích đức tu hành,

Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu”.

Núi rừng Yên Tử vẫn sừng sững với những Thánh tích hãy còn đó qua bao biến đổi của cuộc đời. Có lắm người vẫn hằng mong ước lên đến tận chùa Đồng ít nhất một lần mới thỏa chí bình sinh. Gần đây, người tìm về Yên Tử càng đông hơn những năm trước. Về Yên Tử, có phải chúng ta đang tìm về với núi rừng, hay tìm về với hồn thiêng Yên Tử suốt tự ngàn xưa cho mãi đến nay? Hồn thiêng ấy là cái gì đó mà đến nay vẫn còn mờ ảo, chưa được rõ ràng lắm đối với một ít người trong những người đang tìm về chốn Tổ. Tuy mờ ảo, nhưng nó đã in đậm vào lòng người tự thuở nào. Có phải chính đó là năng lực đã thôi thúc mọi người tìm về Yên Tử, tìm về với chốn Tổ non thiêng?

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông - một vị minh quân Việt Nam sau khi làm tròn trách nhiệm của một vị vua đối với nước, Ngài xem ngai vàng như dép rách, quyết chí cầu giác ngộ, xuất gia lên tận núi Yên Tử dốc chí tu hành. Trải thời gian công phu miên mật, Ngài đã ngộ đạo, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm chỉ dạy cho mọi người. Từ đây, dòng Thiền Việt Nam chính thức khai sinh. Dòng Thiền ấy đã sống dậy mạnh mẽ khiến Phật giáo thời bấy giờ trở thành quốc giáo. Núi rừng Yên Tử từ trong im lìm bỗng trở nên sống động và thiêng liêng, thấm đậm vào lòng người. Ngày nay tìm về Yên Tử, có nghĩa là chúng ta đang tìm về với hồn thiêng Yên Tử; tìm về với Thiền phái Trúc Lâm đang sống lại sau ngót mấy trăm năm dài vắng bóng.

Mới nghe qua, chắc chúng ta không khỏi ngỡ ngàng khi nói đến Thiền mà còn phân ra là Thiền Ấn Độ, Thiền Nhật Bản, Thiền Trung Hoa, Thiền Việt Nam hay là Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đúng rồi, Thiền là Thiền. Trên chỗ cứu cánh giác ngộ bản tánh chân thật thì không phân chia là Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam. Nhưng về mặt phương tiện giáo hóa thì cần phải khế cơ. Chính vì thế, khi truyền Thiền vào một nước nào, các Thiền sư đã tùy theo phong tục tập quán, tùy thuộc vào căn cơ của chúng sanh ở nước đó mà lập bày phương tiện giáo hóa cho phù hợp để dẫn dắt người học trở về nhận lại bản tâm chân thật nơi chính mỗi người. Từ đó mới có Thiền Ấn Độ, Thiền Nhật Bản, Thiền Trung Hoa hay Thiền Việt Nam… Đây là tinh thần tùy duyên bất biến của đạo Phật. Trên tinh thần đó, cũng tùy vào phong tục tập quán và căn cơ của người Việt Nam, vua Trần Nhân Tông đã sáng lập ra dòng Thiền Việt Nam - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Trước khi Thiền phái này ra đời, ở Việt Nam đã có các Thiền sư từ Ấn Độ, Trung Hoa… truyền Thiền vào. Nổi bậc đáng kể đến lúc này có ba Thiền phái chính. Phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi do ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người Ấn Độ sang Trung Hoa đắc pháp nơi Tam Tổ Tăng Xán. Sau đó, Ngài sang chùa Pháp Vân ở Việt Nam truyền dạy Thiền. Đây là hệ phái Thiền tông đầu tiên truyền sang Việt Nam. Hệ thứ hai do Thiền sư Vô Ngôn Thông truyền vào. Ngài là người Trung Hoa truyền Thiền sang Việt Nam ở chùa Kiến Sơ. Hệ thứ ba là phái Thảo Đường. Trong số những người do vua Lý Thánh Tông bắt được từ Chiêm Thành đem về ban cho bá quan để làm nô bộc, có một người rơi vào làm nô bộc cho một vị Tăng lục. Một hôm vị Tăng lục đi khỏi, người ấy thấy bản Ngữ lục để trên bàn có mấy chỗ sai bèn tự ý chỉnh sửa. Vị Tăng lục đi về thấy thế ngạc nhiên, hỏi ra mới biết là người nô bộc của mình sửa. Ông đem việc ấy tâu lên vua Lý Thánh Tông. Vua cho mời vào Triều rồi đem Kinh Luận và Thiền ra hỏi, người ấy ứng đối lanh lẹ và khế hợp. Vua rất kính phục, truy nguyên ra mới biết đây là Thiền sư Thảo Đường, đệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển ở Trung Quốc thuộc hệ phái Tông Vân Môn. Về sau, đồ chúng nghe danh tiếng của Sư nên tìm đến rất đông. Do đây trở thành Thiền phái thứ ba ở Việt Nam.

Đến thời vua Trần Nhân Tông, ba hệ phái Thiền trên vẫn còn truyền bá ở nước ta. Vì phương tiện của mỗi tông phái còn ảnh hưởng các tông phái ở Trung Hoa nên có sự khác biệt. Hơn nữa, phương tiện của mỗi tông phái này vẫn còn mang màu sắc của Trung Hoa, chưa được nhất quán, nên chưa phổ cập được với số đông căn cơ quần chúng Việt Nam. Do đó, sau khi vua Trần Nhân Tông tu hành ngộ đạo, từ chỗ giác ngộ và kinh nghiệm trong công phu tu hành của mình, Ngài vốn là người Việt nên rất cảm thông về phương tiện phù hợp với căn cơ người Việt, nhận thấy sự thống nhất các phái Thiền trên thành một Thiền phái thích hợp để mọi người ứng dụng tu hành dễ đưa đến kết quả là điều cần thiết, Ngài đã đứng ra thành lập hệ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đây là một Thiền phái Việt Nam đầu tiên ra đời không còn lệ thuộc các hệ phái Trung Hoa, xứng đáng là một hệ phái Thiền Việt Nam chính thống.

Sau đời vua Trần Nhân Tông, ngài Pháp Loa kế thừa làm Tổ vị thứ hai. Kế đó là ngài Huyền Quang kế thừa làm Tổ vị thứ ba. Mãi đến thế kỷ XVIII, Thiền sư Hương Hải là vị Thiền sư nối pháp Thiền phái này. Ở những thế kỷ gần đây, có Thiền sư Chân Nguyên, Thiền sư Minh Chánh… đều là những Thiền sư kế thừa dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Nếu ở Ấn Độ, Đức Phật là một vị Hoàng Thái tử đi tu thành Phật thì ở Việt Nam, một ông vua đi tu làm Tổ sáng lập ra Thiền phái Việt Nam. Nếu ở Ấn Độ có ông Duy Ma Cật là một cư sĩ ngộ đạo, ở Trung Hoa có ông Bàng Long Uẩn nói lên lời vô sanh, thì ở Việt Nam có ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng là một người cư sĩ tại gia tu hành thấy đạo rõ ràng, đến bên mé sống chết mà Ngài vẫn làm chủ tự tại. Đây là điều mang lại niềm tin cho tất cả chúng ta; tin rằng, nếu ai quyết chí tu hành, cũng đều có khả năng giác ngộ như nhau không khác.

Danh vọng, địa vị, của cải, quyền uy… là cái mà người đời hằng mơ ước. Ở đây, một ông vua ngồi trên ngai vàng, nắm cả sơn hà, làm chủ thiên hạ, đã đạt được tất cả những gì cao quý nhất mà người đời mong muốn. Thế mà Ngài đã giã từ tất cả, vào trong rừng sâu núi thẳm, khổ hạnh tu hành, đạt được giác ngộ, sáng lập ra dòng Thiền Việt Nam; thì cái mà Ngài muốn dựng lập, hẳn phải vượt hơn những cái quý trọng tầm thường của thế gian!

Trải thời gian thăng trầm biến đổi của cuộc đời, đã có lúc các Thiền sư phải âm thầm tiếp nối, Thầy trò thầm trao truyền nhau, cũng có lúc dòng Thiền này vắng bóng. Ngày nay, khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là chúng ta làm sống dậy một dòng Thiền Việt Nam chính thống đã truyền bá hưng thạnh một thời; khơi dậy cái trân quý của cha ông chúng ta đã dày công gầy dựng mà con cháu ngày nay gần như quên lãng hay chỉ biết đến một cách chung chung, chưa được thấu triệt.

Khi Thiền sư Đạo Viên ẩn tu trên núi Yên Tử, vua Trần Thái Tông có lần trốn triều đình đi xuất gia, lên núi hỏi đạo, chỉ mong làm Phật, không cầu làm gì khác. Ngài Đạo Viên nói:

- Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết, đó là Phật thật. Nếu bệ hạ ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài.

Vua toan lên núi tìm Phật, Thiền sư Đạo Viên đã khéo chỉ thẳng, trong núi vốn không có Phật, chỉ xoay lại bản tâm, tâm lặng mà hằng biết; đó chính là Phật thật. Quả là một lối chỉ thẳng, vắn tắt mà đầy đủ; thật đầy đủ để chúng ta tu hành suốt cả đời không hết. Nhận thẳng ngay đây, không nhọc nhằn chạy tìm vòng vo vô ích.

Từ đó, các vua nhà Trần đều là những ông vua Phật tử, dùng Chánh pháp trị dân. Ngoài việc Triều chính, các Ngài còn để tâm nghiên cứu Phật pháp tu hành.

Vua Trần Nhân Tông lúc còn là Thái tử, vua cha là Thánh Tông đã giao cho ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ dạy Thiền. Một hôm, Thái tử hỏi:

- Bổn phận và tông chỉ người tu Thiền là thế nào?

Thượng sĩ đáp:

- Phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tùng tha đắc. (Xoay lại chính mình là phận sự chính, chẳng từ nơi khác mà được).

Ngay đó, vua Trần Nhân Tông lãnh hội ý chỉ và ứng dụng tu hành. Trải thời gian công phu, Ngài nhận được đạo lý; sống ngay giữa cõi trần tục mà vẫn vui với đạo nên đã làm Bài Phú Cư Trần Lạc Đạo khi còn là Thái Thượng Hoàng. Đọc một đoạn sau thì chúng ta mới cảm phục sự giác ngộ của Ngài lúc còn là cư sĩ tại gia:

Vậy mới hay!

Bụt ở trong nhà;

Chẳng phải tìm xa.

Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta…

Thì mới biết, Phật ở trong nhà, chẳng phải tìm đâu xa trong núi. Bởi quên gốc nên ta mới chạy đi tìm Phật. Đến khi hay ra thì Phật chính là mình.

Quên gốc nên chạy đi tìm Phật bên ngoài, vào núi để tìm Phật, càng đi tìm chỉ là càng cách xa. Xoay trở lại thì Phật vốn là mình. Lời dạy phản quan của ngài Tuệ Trung mà vua Trần Nhân Tông đã thể nhận được thật là cô đọng và xác đáng. Về sau xuất gia tu hành đạt đạo, Ngài lấy đây làm điểm chính yếu để thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Mãi đến thế kỷ thứ XVIII, vẫn còn Thiền sư Hương Hải là người truyền thừa dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Khi trở về Bắc, vua Lê Dụ Tông muốn nghe thuyết pháp để được liễu ngộ nên đến hỏi đạo, Sư khuyên Vua chí tâm lắng nghe cho thấu suốt bài kệ:

Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,

Thẩm sát tư duy tử tế khan.

Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,

Tương lai diện thượng đổ Sư nhan.

Hằng ngày xoay lại chính nơi mình,

Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.

Trong mộng tìm chi người tri thức,

Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt mình.

Ngài khuyên vua xoay lại chính mình xét cho thật kỹ càng, chớ tìm tri thức nào khác trong mộng. Còn tìm tri thức nào khác ngoài mình thì rõ ràng chúng ta vẫn còn đang ở trong mộng. Tỉnh ra mới biết, ngay trên mặt mình, mặt Thầy vẫn hiển hiện đó tự thuở nào, không nhọc phải tìm cầu nơi nào khác.

Từ Thiền sư Đạo Viên dạy đạo cho  vua Trần Thái Tông, đến vua Trần Nhân Tông nhận ý chỉ từ ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ tu hành đạt đạo, cho đến Thiền sư Hương Hải dạy đạo cho vua Lê Dụ Tông và trải dài cho đến mãi về sau, Thiền phái Trúc Lâm vẫn một sắc màu phản quan không sai khác; xoay lại nhận ra Phật tại tâm mình, không chạy tìm Phật nơi nào khác. Nếu tinh thần ấy không đúng với chân lý Phật Tổ chỉ dạy, không đáng trân quý, không phù hợp với căn cơ quần chúng người Việt thì vì sao Thiền phái này lại tồn tại một cách có hệ thống, nhất quán và lâu dài đến thế?

Đến như những pháp Phật Tổ chỉ dạy xưa kia, chỉ cốt khiến người xoay lại ngay nơi chính mình chứ không phải hướng ra ngoài tìm cầu cái gì huyễn hoặc hay xa vời nơi nào khác.

Một nhân duyên lớn Đức Phật xuất hiện ở đời chỉ vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Ngộ nhập Phật tri kiến tức là xoay lại, trở về nhận lại bản tâm chân thật nơi chính mỗi người. Đây là điểm chính yếu của Ba Tạng Giáo điển.

Khi ngài Thần Quang được Tổ Đạt Ma nhận làm đồ đệ với hiệu là Huệ Khả. Một hôm, Ngài thưa với Tổ Đạt Ma:

- Bạch Hòa thượng, tâm con không an, thỉnh Hòa thượng dạy cho con pháp an tâm.

Tổ Đạt Ma bảo:

- Đem tâm ra ta an cho!

Ngài Huệ Khả xoay lại tìm không thấy dấu vết, liền bạch:

- Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.

Tổ bảo:

- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Ngay đó, ngài Huệ Khả liền nhận ra, biết được đường vào.

Tổ Đạt Ma khéo chỉ, ngài Huệ Khả thật thà tin tuyệt đối vào lời dạy của Thầy nên xoay lại tìm tâm, tâm liền mất dạng. “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Quả là một lối khai thị tài tình! Đưa tay vạch thẳng, khiến người bước thẳng vào nhà tự lúc nào chẳng rõ.

Sau thời gian công phu, một hôm ngài Huệ Khả thưa:

- Bạch Hòa thượng, hiện nay con bặt hết các duyên.

Tổ Đạt Ma bảo:

- Coi chừng rơi vào không!

Ngài thưa:

- Rõ ràng thường biết, làm sao không được.

Tổ Đạt Ma liền nói:

- Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế.

Đây là Tổ Đạt Ma ấn chứng ngài Huệ Khả làm Tổ vị thứ hai kế thừa Thiền tông Trung Hoa.

Tổ Huệ Khả xoay lại tìm tâm liền biết lối vào thì ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy phản quan, vua Trần Nhân Tông liền nhận rõ yếu chỉ tu hành.

Tổ Huệ Khả “Bặt hết các duyên, rõ ràng thường biết” thì Thiền sư Đạo Viên dạy vua Trần Thái Tông: “Tâm lặng mà biết, đó chính là Phật thật”. Vua Trần Nhân Tông thì: “Niềm lòng vằng vặc, Giác tính quang quang… Vắng vẳng ngàn kia, Dầu lòng dong thả”.

Rõ ràng, tuy các Ngài phương tiện uyển chuyển để chỉ dạy cho phù hợp với từng căn cơ chúng sanh thì có khác, nhưng trong đó vẫn ngầm có sự nhất quán chứ không phải tự ý đặt bày khiến có sự mâu thuẫn sai biệt giữa nhau. Vận dụng phương tiện tuy có khác, nhưng mục đích chính yếu chỉ là hướng cho người học đạt đến chỗ giác ngộ rốt ráo tột cùng. Và đến chỗ giác ngộ cuối cùng rồi thì không còn sai khác.

Chấp vọng tưởng làm chơn thì bị cuốn theo vọng, trôi lăn chịu khổ trong sanh tử. Xoay trở lại thấy tột là vọng thì vọng tự lìa. Trong vắng bặt mà hằng giác biết, mới hay ra xưa nay trên vọng mà cái giác biết này chưa từng thiếu vắng! Bởi chúng sanh không tự giác biết, một bề theo vọng, bỏ quên chính mình nên luống chịu bao nhiêu thống khổ. Khéo xoay trở lại, tỏ ra rồi thì chốn nào chẳng phải quê nhà?

Chỉ có thế mà bàn nói đã khá dong dài, không khỏi khiến người chê trách. Ngay đây, xoay lại xem, cái gì là mình? - Thiền phái Trúc Lâm liền sống lại.                           

 

 

Tinh thần Phản quan
trong Thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử

 

I_ TINH THẦN PHẢN QUAN VỚI SỰ
RA ĐỜI CỦA THIỀN PHÁI
TRÚC LÂM YÊN TỬ

Khi còn là Thái tử, vua Trần Nhân Tông được vua cha là Thánh Tông giao cho ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ dạy Thiền. Một hôm, Thái tử hỏi:

- Bổn phận và tông chỉ người tu Thiền là thế nào?

Thượng Sĩ đáp:

- Phản quan tự kỷ bản phận sự, bất tùng tha đắc. (Xoay lại chính mình là phận sự chính, chẳng từ nơi khác mà được).

Ngay đó, vua Trần Nhân Tông lãnh hội ý chỉ, hằng ngày ứng dụng tu hành.

Sau khi trao ngai vàng cho con là Anh Tông, ngài lên núi Yên Tử tu hành ngộ đạo và đã sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Từ đây, dòng Thiền Việt Nam chính thức khai sinh. Dòng Thiền ấy đã sống dậy mạnh mẽ khiến Phật giáo thời bấy giờ trở thành quốc giáo. Tinh thần phản quan đã đóng vai trò chủ đạo, trở thành tông chỉ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

II_ TINH THẦN PHẢN QUAN TRONG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

1/ Soi lại để biết cái gì là giả, cái gì chân thật là mình:

Tinh thần Phản quan, hay nói đủ hơn là Phản quan tự kỷ, có nghĩa là xoay lại chính mình. Nói đến xoay lại chính mình, thì vấn đề then chốt trước tiên cần được đặt ra ở đây là: Chính mình là gì? Hay cái gì là cái chân thật là mình? Xác định được cái mình chân thật, cái chính mình, đó là cái tiêu chỉ để xoay lại, thì tinh thần phản quan mới được sáng tỏ. Như vậy, chính mình (tự kỷ) là gì?

Cái chân thật là mình phải được nhìn nhận qua ba yếu tố:

Trước tiên, nó phải ở ngay nơi chính mình, không phải ở bên ngoài.

Cái ấy chỉ có một, không thể có hai cái thật là mình tồn tại trong một thân thể.

Nó phải là cái chân thật, không hư hoại. Nói rõ hơn là không sanh, không diệt.

Như vậy, ngay nơi con người chúng ta, cái gì làcái mình chân thật?

Thông thường con người được cấu tạo bởi hai phần, phần thể chất là thân thể và phần tinh thần, tức là nội tâm.

a/ Về thân thể:

Giả sử cái thân này là mình thì khi một anh A nào đó bị tai nạn, một phần thân thể bị rời ra khỏi thân thì khi ấy, phần bị rời ra khỏi thân là anh A, hay thân anh hiện đang nằm đó là anh A? Nếu phần đó không phải là anh A thì nó là của ai? Nếu cả hai đều là anh A thì không lẽ có hai cái gọi là anh A lại cùng tồn tại trong một lúc? Hơn nữa, có thân thể nào sanh ra ở đời mà không bị sự chi phối biến hoại của vô thường sanh già bệnh chết?

Vì tấm thân này nó không phải là một thực thể tự có, mà nó là do nhiều bộ phận ráp lại, nhiều nhân duyên hợp lại mà thành. Đồng thời, nó là cái thuộc về biến hoại vô thường sanh diệt cho nên nó là cái giả tạm, tạm có trong khoảng thời gian cố định nào đó rồi mất, nó không còn mãi, nên cái thân này không phải là cái chân thật là mình.

Như vậy, phần còn lại là tinh thần, hay là cái gọi là tâm hay nghĩ suy phân biệt, cái ấy có phải thật là mình hay không?

b/ Về phần tinh thần, hay là cái tâm suy  nghĩ phân biệt:

Trong một ngày từ sáng đến chiều, con người thường suy nghĩ rất nhiều thứ. Có khi thì buồn, có khi thì vui, khi thì suy nghĩ lành, khi lại suy nghĩ không được thiện… Vậy thì, cái nào thật là mình?

Nếu nhận cái vui cho thật là mình thì lẽ ra con người chúng ta phải vui mãi không bao giờ buồn. Bởi cái chân thật thì không biến đổi sanh diệt. Nhưng vốn nó lại là luôn luôn thay đổi, nào là buồn, vui, thương, ghét… rất nhiều thứ. Có khi suy nghĩ nhiều quá đến nỗi rối bời và không còn biết mình là gì nữa! Như vậy cái vui kia không phải thật là mình. Hơn nữa, nếu nhận tất cả những tâm suy nghĩ đó cho là thật mình thì mình là cái nhiều thứ lộn xộn. Nếu vậy thì hóa ra là có nhiều con người cùng tồn tại trên một cơ thể hay sao? Điều này vô lý.

Vì cái tâm suy nghĩ buồn vui thương ghét kia có nhiều thứ. Đồng thời nó là cái niệm niệm sanh diệt biến đổi vô thường, cho nên nó không phải thật là mình.

Thân thể cũng không phải là thật mình, tâm suy nghĩ phân biệt cũng không phải thật là mình. Vậy thì, đâu là cái chân thật mình?

c/ Cái chân thật mình là gì?

Có một lúc nào đó thật thảnh thơi, chúng ta thử ngồi lặng lại, trong lòng không một niệm nghĩ suy, có người hay vật đi ngang qua mình vẫn biết rõ ràng, gió thổi vẫn biết mát. Không cần khởi niệm mà vẫn biết một cách rõ ràng, sáng suốt, không động, cái ấy chính thực là mình, là cái mình chân thật nguyên vẹn.

Bởi lẽ khi có nghĩ suy chúng ta cũng biết, nhưng phần đông con người bận lo biết theo niệm nghĩ suy đó mà quên mất đi cái khả năng vốn tự hay biết kia. Và chính khi không một niệm nghĩ suy, nó cũng biết một cách rõ ràng, không cần đợi có cảnh, không cần đợi có đối tượng mới biết.

Như vậy khi có cảnh, có nghĩ suy, đó là tướng có, là tướng động, chúng ta cũng biết rõ ràng. Khi không cảnh, không nghĩ suy, là tướng không, là tướng tịnh, chúng ta cũng vốn tự biết một cách rõ ràng. Trên hai tướng có và không, động và tịnh, cái khả năng vốn tự biết kia luôn luôn sẵn có mặt, nó không theo hai tướng động tịnh, có không biến đổi sanh diệt kia mà biến đổi sanh diệt theo. Nó vốn là một thể sẵn tự nơi chính mình. Nó vốn là chính mình chứ không phải là cái từ nơi nào khác. Cho nên nó là cái mình chân thật. Đó là chúng ta đã xác định xong cái tự kỷ, cái thật là mình.

d/ Cái tự kỷ, cái chân thật này được thể hiện qua Kinh Luận, đặc biệt là trong các Thiền sư đời Trần, hay là trong Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử:

Trong kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy ngài A Nan: “Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt tức là tâm ông. Nếu tánh phân biệt, rời tiền trần mà không có thật thể, đó là bóng dáng phân biệt tiền trần”.

Như khi nhìn một cành hoa chúng ta biết một cách rõ ràng. Khi hái cành hoa đi thì cái biết đó vẫn hằng hữu, không biến đổi, không theo cành hoa mất đi mà nó mất. Đức Phật nói, chính đó là tâm chân thật nơi mỗi người chúng ta.

Nếu khi nhìn cành hoa thì có biết. Khi hái cành hoa đi, chúng ta không còn biết, thì đó là cái biết theo cành hoa. Cành hoa có thì nó có, cành hoa không thì nó không. Theo cành hoa mà nó sanh diệt có không. Đức Phật nói, đó là bóng dáng phân biệt tiền trần, không phải thật là tâm mình.

Một hôm, Nhị tổ Pháp Loa nghe đồ chúng tụng Kinh bèn hỏi:

-  Chúng đang làm gì?

Một vị tăng thưa: - Niệm Phật.

Sư bảo: - Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

Tăng thưa: - Chẳng biết.

Sư bảo: - Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

Nếu thật sự là không biết, vậy ai đang nghe hỏi và biết đáp một cách rõ ràng, chưa hề thêm một niệm đó? Rõ ràng vị tăng này đang quên mất chính mình, đang biết nói đó mà bảo là không biết, có khác nào ngồi trên lưng trâu mà đi tìm trâu, đang tỉnh đó mà như người đang nói mớ. Ngài Pháp Loa đã khéo đánh động trở ngược lại, điểm thẳng để vị tăng này nhận lại cái chân thật là mình đang hiện hữu, đang biết nói đó. Cái ấy là ông Phật thật, là chỗ chính yếu mà chư Phật, chư Tổ muốn chỉ cho người học nhận lại.

Vì vậy, trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo, Hội thứ 5, vua Trần Nhân Tông nói:

Vậy mới hay!

Bụt ở trong nhà;

Chẳng phải tìm xa.

Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta…

Thì mới biết, Phật ở trong nhà, chẳng phải tìm ở đâu xa. Bởi quên gốc, quên chính mình cho nên con người mới chạy đi tìm Phật đâu đâu ở bên ngoài. Đến khi tỉnh lại, hay ra thì Phật chính là mình. Bỏ quên chính mình mà đi tìm Phật bên ngoài thì càng tìm càng xa. Phản quan, xoay trở lại thì Phật vốn là mình, trong nhà mỗi người vốn sẵn một ông Phật thật.

Có lần trong pháp hội tham vấn, Sơ tổ Trúc Lâm nói kệ:

Thân như hô hấp tỷ trung khí,

Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,  

Bất thị tầm thường không quá xuân.

Thân như hơi thở ra vào mũi,

Đời giống mây trôi đỉnh núi xa.

Tiếng quyên từng chặp vầng trăng sáng,

Đâu phải tầm thường qua một xuân.

Cuộc thế và con người đâu phải chỉ có vô thường và tạm bợ? Trong cái sanh diệt chuyển biến vô vàn kia, vẫn còn đây một cái đang biết về nó, đang hiện diện đây chưa hề bị những cái đó làm biến đổi bao giờ. (Đâu phải tầm thường qua một xuân). Chỉ là khéo phản quan, khéo nhận lại thì ngay trên cảnh vô thường sanh diệt hằng ngày, đạo lý chân thật đã hiện bày đầy đủ.

2/ Xoay lại, sống trở về với con người chân thật, không theo cảnh giả tạm:

Khi đã biết rõ cái gì là giả tạm, đâu là con người chân thật chính mình rồi thì hằng ngày trong mọi sinh hoạt, trên tất cả cảnh, hành giả luôn luôn xoay lại, sống trở về với con người chân thật đó, không theo niệm tưởng phân biệt, không chạy theo cảnh giả tạm bên ngoài. Đó là đang phản quan, là đang dụng công tu tập.

Trong bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ hai, vua Trần Nhân Tông có nói:

Biết vậy!

Miễn được lòng rồi; chẳng còn phép khác.

Gìn tính sáng tính mới hầu an;

Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.

Cốt là tâm được rảnh đi những niệm tưởng lăng xăng, rảnh đi những duyên trần rối rắm, thì ngay đó tánh thật hiển hiện sáng ngời, không còn có phép nào khác tối thắng hơn nữa. Khéo gìn giữ và sống về với tánh sáng đó thì mới ngỏ hầu được an. Phải dừng lại vọng niệm, vọng niệm đã dừng rồi thì không còn bóng dáng mê lầm nào nữa. Đó là Ngài đã nói lên tinh thần phản quan, nên quay lưng với những thứ giả tạm phù hoa để sống trở về với con người chân thật. Đó là phép tối thắng khiến cho con người không còn mê lầm.

Hay là trong Hội thứ tám thì Ngài khuyên nhắc:

Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ;

Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc (biết).

Nếu mãi mê đắm theo công danh, đó là đánh quên mất chính mình mà theo cái vô thường tạm bợ. Ngài nói đó là ngây thơ, là khờ dại. Nếu xoay lại mình lo trau dồi phúc tuệ, lo cho cả hai đều được tròn đầy. Ngài nói, đó mới là người thật biết lo cho mình.

Ngài Pháp Loa dạy: “Cửa giới, cửa định, cửa huệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình”.

Vừa phản quan, nhận lại cái chân thật nơi mình, ngay đó quấy ác vắng bóng, giới vốn tự tròn đủ. Trong ấy vốn tự không động thì nói gì đến định? Định vốn tự tròn đầy. Tánh ấy vốn sáng tỏ, biết khắp không một vết mê mờ, ngay đó huệ đã tự tròn đủ.

Khi Ngài Pháp Loa còn học đạo với Sơ Tổ Trúc Lâm. Có lần Ngài hỏi:

Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?

Sơ Tổ nói: - Mưa tầm tã.

Người qua khỏi cổng thì không còn hỏi người gác cổng. Đã là muôn dặm mây tạnh rồi, sao không ngay đó thể nhận thẳng và sáng tỏ đi mà còn đi hỏi tìm gì nữa? Ngay đó mà còn đi hỏi tìm thì không phải là mưa vẫn đang tầm tã hay sao!

Ngài Pháp Loa hỏi tiếp:

Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào?

Sơ Tổ nói: - Trăng vằng vặc.

Nếu thật sự là mây che kín thì ai đang biết hỏi đó? Nhận thẳng cái đang biết hỏi đó thì liền hay ra, trăng vẫn sáng vằng vặc tự bao giờ, không một vết mây mờ có thể che phủ được.

Chạy theo cảnh bên ngoài, đó là bỏ sót tự tâm. Ngược cái thấy trước để xoay trở lại, thì lại là thừa ra cái phân biệt. Phải thật chính chắn dụng công, khéo thầm nhận thì liền khế hợp. Còn như vừa tác ý động niệm liền sai. Chỗ này Nhị tổ Pháp Loa có dạy:

Trong 12 giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra. Thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải (có tác ý, có hành động) ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế…

Nếu tâm theo cảnh mà khởi, đó là dính mắc trên cảnh. Đã dính mắc trên cảnh thì bị cảnh trần chi phối, trói buột, bao nhiêu vui buồn đau khổ có ra. Cảnh thuận thì vui, cảnh nghịch thì không thích. Cái mình ưa thích đang còn trong tầm tay thì vui mừng, mất đi thì đau khổ. Đó là đã bị cảnh vật bên ngoài xoay chuyển. Nếu khéo xoay lại, tâm không theo cảnh khởi, vẫn bình thường an nhiên bằng cái biết sáng ngời đang hiện hữu đây, thì cảnh dù có thuận nghịch, đến đi, nhưng cái ấy vốn tự sáng biết rõ ràng không động. Ngay đó là đã chuyển cảnh. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu hay chuyển vật, tức đồng Như Lai”. Tức là Đức Phật nói rõ, người nào hay chuyển được cảnh, người ấy đồng với Phật. Giờ phút nào chuyển được cảnh, giờ phút ấy Phật đang hiện tiền.

Cho nên khi có người hỏi về gia phong của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, Ngài nói:

Nhàn ném trái rừng kêu vượn tiếp,      

Lười câu cá suối khiến hạc tranh.

Gia phong của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ là khi nhàn thì ném trái rừng kêu vượn tiếp. Lười thì câu cá suối tranh giành vui với chim hạc. Ném trái rừng, câu cá suối, đó là việc mọi người vẫn thường làm. Nhưng nếu hay nhàn được đi những tâm niệm bộn rộn rối rắm, lười được đi những vọng niệm lộn xộn lăng xăng, thì luôn là đang sống trong nếp nhà Thượng Sĩ.

3/ Sống bằng con người chân thật:

Khi nhận ra chính mình và sống thuần thục rồi thì không còn tác ý soi lại nữa. Tinh thần phản quan lúc này là sống thẳng bằng tự tánh chính mình. Bằng cái biết toàn thể chân thật đó để sống, để thấy biết, để làm tất cả việc. Lúc này cái thấy biết vượt cả năng sở, tâm cảnh nhất như, thấy biết như thị.

Trong bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ nhất, vua Trần Nhân Tông nói:

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý;

Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm.

Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng;

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm. 

Đi dạo chơi suối nước xanh biếc hoặc ẩn trong non xanh, nhân gian có nhiều người ưa thích, đắc ý. Nhưng khi dạo chơi hay ẩn trong suối rừng đó, người đang sống và sáng tỏ cái đang biết rõ, đào là hồng, liễu là lục, trong thiên hạ có được mấy người là tri âm, đồng cảm thông nhau trong chỗ đạo lý chân thật rốt ráo đó? Người sống được như vậy rồi thì, nào là nguyệt bạc, vừng xanh, đâu đâu cũng rờ rỡ ánh sáng thiền lai láng. Nào là hoa mềm, nào là liễu biếc, nơi nơi đều hiển hiện ánh sáng trí tuệ rạng ngời. Lúc này, nhìn cái gì mà không phải là đạo chân thật? Có lúc nào thiếu vắng ánh sáng thiền!

Tinh thần này hiện rõ ở ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài Trữ Từ Tự Răn:

Tâm thanh tịnh chẳng nhơ chẳng bợn,

Thân kiên cố không trước không sau.

Sắc xuân hoa đóa đóa tươi hồng,

Trăng thu bóng tròn tròn viên diệu.

Cái ấy vốn không chút bợn nhơ nên nói là tâm thanh tịnh. Nơi chúng sanh còn mê, nó cũng không mất, chỉ là tạm quên. Người đạt ngộ cũng không phải mới được cái gì khác, mà chỉ là nhận lại cái vốn sẵn. Không phải là cái mới có, mới làm ra, mà nó vốn sẵn tự thuở nào, thì lấy gì để định trước sau? Buông bỏ nó cũng không được, bởi mọi người đang sống bằng nó, nên nói là thân kiên cố. Nếu ai hay bằng cái ấy mà sống thì nhìn cái gì cũng sáng rỡ, tươi mát. “Sắc xuân hoa đóa đóa tươi hồng, trăng thu bóng tròn tròn viên diệu”. Cái gì cũng đang hiển hiện pháp thân thanh tịnh, cũng đang toát lên một sức sống kỳ diệu, lạ thường.

Chỗ này rất sống động trong bài thơ Cúc Hoa số 5 của Tam tổ Huyền Quang:

Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,

Phần hương độc tọa tự vong ưu.

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.

 

Người ở trên lầu, hoa dưới sân,

Đốt hương ngồi ngắm bỗng quên ưu.

Hồn nhiên người với hoa vô biệt,

Một đóa hoa vừa mới nở tung.

         (Phỏng dịch theo Nguyễn Lang).

Khi niệm lự chợt quên, trong ngoài liền rỗng lặng, người với hoa hồn nhiên hòa lẫn không phân biệt kia đây. Lúc này, hoa cúc là hoa cúc. Ngài nói, một đóa hoa vừa mới nở tung trùm khắp tất cả chỗ. Nơi nơi đang hiển hiện một đóa hoa này. Đóa hoa nào vừa mới nở tung? Thử vô ưu ngồi ngắm đi rồi sẽ thấy.

 

III_ KẾT LUẬN

Mỗi người chúng ta vốn tự có khả năng biết. Nếu khi đang đọc bài này mà chỉ một bề biết theo tờ giấy, đọc theo chữ nghĩa, thì tuy vẫn đang biết, nhưng đó là biết theo cảnh và đã bỏ sót chính mình. Trong nhà Thiền nói, phút chốc tạm quên, liền đồng với người chết. Cũng ngay khi đang đọc bản văn này, nếu lắng lại, lặng trong, biết suốt mà đọc thì từng chữ, từng chữ hiển hiện một cách rõ ràng, đang sáng ngời thấy biết. Cái ấy không động, nó chính thật là mình và mình đang sống bằng cái tâm biết chân thật, đang thực sự là sống.

Nhận lại, hay ra, sáng tỏ cái chân thật đó gọi là ngộ đạo. Sống trọn vẹn bằng cái chân thật đó một cách miên mật, không xen hở thì gọi là sống đạo. Đến đây rồi thì hằng ngày làm việc gì cũng là việc làm đạo lý, ánh sáng Thiền rờ rỡ, bàng bạc trong mọi sinh hoạt hằng ngày.

Cho nên khi có người hỏi về gia phong của Sơ Tổ Trúc Lâm, Ngài nói:

Áo rách che mây sáng ăn cháo,

Bình xưa tưới nguyệt tối uống trà.

Gia phong của Tổ là mặc áo rách, buổi sáng ăn cháo đạm bạc. Tối đến thì tưới nguyệt, uống trà. Chỉ là cuộc sống bình thường, giản dị.

Đây chính là chỗ rốt ráo của tinh thần phản quan tự kỷ. Tinh thần này vốn sẵn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của mỗi người. Chỉ khéo nhận lại thì ngay đây liền là đầy đủ. Nhận và sống trọn vẹn bằng tinh thần phản quan là chúng ta đang giải thoát ngay trong sinh hoạt hằng ngày, ngay trong cuộc sống hiện tại chứ không phải tìm kiếm ở một nơi nào khác xa vời hay sau khi chết mới có được. Lúc này sẵn sàng làm lợi ích chúng sanh mà không thấy ngăn ngại, mỗi mỗi việc làm đều là việc Phật. Tinh thần phản quan thật xứng đáng là tông chỉ của một dòng Thiền thuần túy Việt Nam – Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sách: Hãy là chính mình

THAY LỜI TỰA

Như giữa ban ngày, cảnh vật rành rành trước mắt. Thoáng giấc ngủ say, mọi thứ đưa vào cơn mộng. Cũng vậy, tâm sáng nơi mỗi chúng ta, luôn luôn hiện tiền trên mọi sinh hoạt. Đi đứng nói cười, làm lụng công việc, thường tự rành rẽ rõ ràng. Không chút mê mờ, có đâu nhầm lẫn! Thế rồi bất chợt thoạt quên, con người bỗng như mộng mị. Hơn thua thành bại, hệt như mở mắt chiêm bao. Lắm nỗi đa đoan, chỉ do một thoáng quên lãng.

Tìm lại chính mình, chính là tìm lại tánh thể, giác sáng tinh khôi, vốn tự sẵn đủ. Ngay đây sống thẳng, liền được sống là chính mình. Hay ra như thế, tợ người tỉnh giấc chiêm bao. Muôn sự phơi bày, bỏ lại sau lưng, bao chuyện rối ren, buồn vui thế sự.

 

Xem tiếp...

Tốt hơn cho mình

LỜI NÓI ĐẦU

Cảnh vật xung quanh, nhờ vào con mắt mà chúng ta nhận thấy, nhưng con mắt chỉ có thể nhìn thấy vạn vật mà không thể tự thấy nó. Mọi thứ bên ngoài đều từ trí tuệ và năng lực của mỗi con người mà có ra, nhưng con người chúng ta thường bám theo tìm hiểu những thứ bên ngoài mà ít có ai hiểu biết về mình một cách trọn vẹn. Nếu đến tham quan một vùng trời mây nước bao la vào những lúc gió lên thì chúng ta chỉ thấy được những sóng gợn lăn tăn mà không bao giờ biết được mặt nước yên ắng, phẳng lặng như thế nào. Trước một thời đại mọi thứ cạnh tranh đua nhau phát triển đến choáng ngợp. Mở mắt ra, con người chúng ta chỉ kịp thấy những gì đang hối hả, cuốn lôi chứ không còn thời gian hay chỗ trống tâm hồn để cảm nhận những gì sâu xa hơn trong cuộc sống. Chúng ta không thể biết được những gì mình chưa biết, và đời sống của mỗi người sẽ còn đó vô vàn những bí ẩn mà chúng ta chưa đủ điều kiện để nhận biết, khám phá ra.

“Tốt hơn cho mình”, những cảm nhận đơn giản, trẻ trung, chúng tôi ứng dụng thấy có tốt hơn cho mình nên mạo muội viết ra để sẻ chia cùng quý vị nào có duyên. Lời lẽ thô sơ, nhưng bằng cả tấm lòng nhiệt huyết từ núi rừng, mong rằng sẽ mang lại một vài điều lợi lạc cho quý vị.

Ngôn ngữ trần gian có giới hạn, khó diễn đạt hết những gì sâu xa muốn nói. Đây chỉ là những gợi ý, còn điều bí ẩn kỳ diệu tuyệt vời kia nằm sẵn nơi mỗi người. Quý vị hữu duyên để tâm chiêm nghiệm, thực hành thử, hy vọng sẽ tốt hơn cho mình.

 


 

TỐT HƠN CHO MÌNH

Anh A ra đường không may bị nạn bất tỉnh được một người đi đường tốt bụng đưa vào bệnh viện. Sau khi được bác sĩ chữa trị tỉnh lại, A không biết mình đang ở đâu và vì sao lại đến nơi này. Nếu không cố chữa trị cho tỉnh hẳn thì sẽ không bao giờ biết về sự có mặt của mình nữa. Cũng thế, hầu hết con người chúng ta chỉ biết cuộc đời mình bắt đầu bằng những đứa trẻ chào đời với tiếng khóc, rồi lớn lên và có mặt tại cõi đời chứ không biết vì sao mình có mặt, từ đâu lại? Con thuyền đời trôi về muôn lối, dòng đời nhiều cạm bẫy khó lường, con người ta đã sinh ra và lớn lên trong khoảng mênh mang vô tận ấy. Lẩn quẩn trong vòng nghiệp báo, bị sự câu thúc đẩy đưa của nghiệp, không hề có được chút sức giác tỉnh nên phần đông chúng ta không biết gì thêm ngoài những thứ mình đang nhìn thấy.

Là một doanh nhân kiếm tiền để phục vụ cuộc sống. Một bác sĩ chữa bệnh để phục vụ sự sống. Một kỹ sư nghiên cứu để phục vụ đời sống. Một thầy giáo dạy học để xây dựng đời sống văn hóa. Một con người muốn hoàn thiện mình cũng chỉ để được sống, vươn lên… Làm bất cứ điều gì tổn thương đến sự sống, trái với cuộc sống thì đều bị con người lên án, không chấp nhận. Và như thế, tất cả chúng ta sanh ra trên cõi đời này chỉ để được sống. Nhưng sống như thế nào? Sống buồn tẻ, chán chường, mịt mờ, thất bại, tan thương hay sống lạc quan, phấn khởi, sáng suốt, thành đạt, vui tươi? Có lẽ ai cũng thích sống được vui tươi, thành đạt. Muốn thế, chúng ta phải có định hướng, phải biết rõ quy chuẩn nào đưa đến một cuộc sống lạc quan, thành đạt, kế đến phấn đấu vận dụng thực hành thì mới mong đạt đến được.

 


I/ PHƯỚC VÀ TRÍ.

Nhìn lại giữa cuộc đời, có người học lực trung bình khá, không giỏi lắm, thi rớt đại học, nhưng có điều kiện và có một trình độ nhất định nên quý vị mở công ty, làm giám đốc, tương đối thành đạt. Song song đó cũng có một ít người khác học cùng khóa thi đỗ điểm rất cao, sau đại học ra trường chỉ đi làm thư ký cho người giám đốc bạn mình để có lương chừng mực. Cũng có một số người của cải nhiều mà không lo học hành, không có trình độ để nắm giữ và phát triển công ty cha mẹ mình được, phải nhờ người khác làm. Cha mẹ qua đời, con lên làm chủ không có trình độ phát triển nên một đống tài sản thoáng chốc tiêu tan. Qua đó cho chúng ta thấy, nếu có năng lực, có trình độ mà không có vốn liếng, không có sự may mắn thì cũng không thành đạt được. Nếu có của cải đầy nhà, nhưng không có trình độ và năng lực thì cũng không đưa đến thành công. Muốn đưa đến thành công, chúng ta cần có đủ hai nhóm yếu tố chính, đó là trình độ, năng lực và sự may mắn, vốn làm ăn. Trình độ, năng lực là nhóm yếu tố thuộc về trí. Của cải, sự may mắn là nhóm yếu tố thuộc về phước. Muốn đời sống của mình được thành đạt, an vui thì phải có đầy đủ hai yếu tố chính, đó là phước đức và trí tuệ.

 


 

1/ TRÍ TUỆ.

Những kiến thức được đào tạo ở thầy cô giáo, cha mẹ, những kinh nghiệm học hỏi được từ bạn bè, cuộc đời… đó là trí tuệ hữu sư, trí tuệ do học hỏi mà có được. Nếu chỉ có thế thì đã trọn đủ để đưa chúng ta đi đến thành công chưa? Trong đời, có những người rất lanh lợi, khôn ngoan, nhưng khi quyết định một vấn đề gì, sau đó về nhà yên lắng lại thì cũng phát hiện ra còn có những điểm lỡ lầm, thiếu sót. Có những việc chúng ta làm vội, nói vội hăng hái lắm, nhưng khi về nhà yên tĩnh một mình nghĩ lại thì thấy hổ thẹn, hối tiếc, ăn năn… Như vậy, nếu chỉ dùng trí tuệ do học hỏi thôi thì vẫn còn nhầm lẫn, lỡ lầm nên chưa trọn đủ. Khi tâm ta động, hoàn cảnh động thì xử lý bị nhầm lẫn, lỗi lầm mà không hề hay biết, cho đến khi yên tĩnh rồi mới phát hiện ra. Như vậy lắng lại, yên tĩnh, thì trí tuệ phát huy đúng mức, sáng suốt, phát hiện ra, lúc đó có ai chỉ dạy cho mình không? Một mình mình, đâu có ai lúc đó? Mới thấy, ngoài trí học hỏi kia ra, vẫn còn một cội nguồn trí tuệ chân thật nơi chính mình, chỉ khi tâm mình lắng lại thì nó mới hiển hiện, suốt thông. Vì vốn sẵn có, không do ai cho cả nên quý ngài xưa thường gọi đó là trí tuệ vô sư, là trí tuệ vốn sẵn nơi mỗi người.

Khi thầy giáo giảng bài, chúng ta hiểu, nhưng cây cột, cái bàn nó có hiểu không? Chúng ta thì hiểu mà những vật vô tri thì nó không thể hiểu. Vì sao? Vì nó là vô tri, không có khả năng hiểu. Còn chúng ta là hữu tri, có khả năng hiểu cho nên mới hiểu bài giảng. Như vậy, trước khi muốn hiểu những lời giảng này thì chúng ta đã có một khả năng tự hiểu trước, nhưng con người chỉ biết bám hiểu theo những lời giảng bên ngoài mà không nhận ra khả năng tự hiểu nơi chính mình, đó là chỗ còn thiếu sót của mỗi con người chúng ta cho nên trí sáng của mình chưa được đầy đủ trọn vẹn. Đây là cội nguồn trí tuệ, là trí gốc, trí này lặng sáng không động, thênh thang trùm khắp, nó có năng lực làm chủ mọi thứ. Muốn được giác ngộ, an vui, tự tại giải thoát, không gì hơn là chúng ta phải khéo tu tập để nhận lại và sống trọn vẹn bằng cội nguồn trí tuệ chân thật này.

Với một bài giáo án vẫn thường giảng dạy mỗi ngày. Nếu thức dậy với một buổi sáng nhọc nhằn, bực bội không vui thì lên lớp chúng ta sẽ nói vấp váp, không trôi chảy, nhầm trước lộn sau. Nhưng với một buổi sáng thanh thản, yên ắng, tràn đầy nhựa sống, thì chúng ta lên lớp nói năng lưu loát, sống động, phát minh nhiều điều mới mẻ hơn những gì đã chuẩn bị trước. Như vậy, khi tâm loạn động, không ổn định thì đầu óc sẽ yếu mỏi, không sáng. Khi tâm mình an tịnh thì trí tuệ phát huy đúng mức. Cho nên, muốn nhận chân trí tuệ một cách tuyệt đối trọn vẹn thì phải tu tập cho tâm mình lóng lặng lại.

 


 

2/ PHƯỚC ĐỨC.

Thế gian thường nói: Học tài thi phận. Có những người có tài, rất giỏi, nhưng muốn thành đạt cũng cần đến sự may mắn. Những điều tốt lành bất chợt đến mà mình không thấy biết trước thì chúng ta gọi nôm na là sự may mắn. Nhưng nếu thấy ra thì nó chính là phúc lành do mình đã tạo nên mà không biết. Hôm nay mình giúp một cậu học trò vượt qua hoàn cảnh khó khăn để học hành. Thời gian xa cách quá lâu không biết cậu ta ở đâu, làm gì, bẳng đi không còn nhớ mặt mũi nữa. Một hôm đi xa, mình bị lạc đường, gặp nạn mưa bão không còn kế sống… tình cờ gặp một người nhiệt tình giúp đỡ, ai cũng nói là mình may mắn. Sau đó nhận ra, mới biết là cậu học trò ngày xưa mình đã từng quan tâm giúp đỡ. Do trước kia mình hết lòng nên bây giờ cậu cũng hết dạ với mình. Khi chưa nhận ra thì cho đó là một sự may mắn. Nhưng khi nhận ra đó là người mình từng giúp đỡ, hôm nay người ta có cơ hội giúp lại mình thì đó là phước đức của mình. Cho thấy, những cơ may mình không thấy được nên cho đó là sự may mắn. Nếu thấy rõ được căn nguyên của nó thì mới biết tất cả đều là phúc lành do mình đã tu tạo từ nhiều kiếp về trước, hôm nay mới đủ duyên thừa hưởng được.

Như vậy, ngoài trí tuệ ra, nhóm yếu tố giúp cho chúng ta thành công là phước đức. Những gì thấy được gọi là lộc đang có. Những gì không thấy gọi là sự may mắn. Nhưng chung quy lại đều là phước đức do mình đã tạo mà có ra.

 


II/ VÀI ỨNG DỤNG CẦN THIẾT TRONG CUỘC SỐNG.

 


 

1/ CẦN BIẾT CÁCH HỌC, CÁCH SỐNG.

Một trái xoài có ngon đến đâu, chúng ta cũng chỉ được ăn phần cơm của nó mà phải bỏ đi phần vỏ và hạt. Cuộc sống muôn màu, kiến thức mênh mông, triết lý uyên áo, sâu rộng, tư tưởng cũng phức tạp vô vàn. Bởi vậy khi nhìn một nhân vật hay một mệnh đề gì, chúng ta nên bình tâm trở lại, không bồng bột nóng vội để mình không bị phân tâm đồng hóa bởi nó, sau đó mới có được quyết định đúng đắn, nên học lấy điều gì và rút ra kinh nghiệm từ những điều nào chưa được hoàn chỉnh. Được như vậy mới có đầy đủ trí tuệ để nhìn nhận một vấn đề không bị sai lầm. Một ca sĩ có giọng hát hay, nhưng chưa hẳn đã có một nhận thức về triết lý sống hoàn hảo. Một nghệ sĩ tài ba, nhưng không phải là nhà tâm lý giỏi để tư vấn trọn cuộc đời mình. Một thầy giáo âm nhạc chỉ giỏi nhận định chất giọng, thanh âm, tiềm năng về âm nhạc, nhưng không hẳn sẽ có những câu từ chuẩn xác và khúc chiết như một nhà văn… Con người không ai một mình có thể làm nên tất cả mọi chuyện, mỗi người chỉ giỏi về một lĩnh vực chuyên môn của mình mà thôi. Trước một người phù hợp với sở thích của mình, chúng ta hâm mộ và họ trở thành thần tượng trong lòng mình. Nhưng đó chỉ là hợp với sở thích riêng của mình chứ họ không thể là chân lý đại diện cho tất cả. Chúng ta biết chọn để học lấy cái hay, rút tỉa kinh nghiệm những điều chưa tốt chứ không phải bắt chước nguyên vẹn một trăm phần trăm. Không phải thấy người kia hát hay, hợp với sở thích, mình hâm mộ họ, sau đó họ mặc sao thì mình cũng phải mặc như vậy, họ suy nghĩ như thế nào mình cũng bắt chước suy nghĩ quan niệm y hệt giống như vậy. Đó là người không biết ăn xoài, nghe xoài ngon quá rồi đi nuốt chửng, ăn luôn cả hạt lẫn vỏ xoài. Chúng ta thường đuổi theo bắt lấy mà ít khi chịu tỉnh sáng lại để nhận định một vấn đề cho được rõ ràng. Thấy cái gì thì đua đòi theo cái ấy, đánh mất đi sự nhận thức sáng suốt chính mình, dẫn đến lối sống sai lầm, sa đọa, chịu lấy hậu quả khổ đau xơ xác thật đáng thương.

Có người phụ nữ nọ tuổi ngoài 50, rất thành đạt trong cuộc sống. Nhưng cô ta lại nói với quý thầy rằng: “Thưa thầy, bây giờ con đi tìm trại dưỡng lão cho mình là vừa rồi.” Quý thầy hỏi: “Cô có tài sản nhiều vô kể, chồng con đầy đủ, tại sao phải vào trại dưỡng lão làm gì?” Cô bảo: “Tại lâu nay con sống đua đòi theo bên ngoài, không quan tâm đến cảm xúc của chồng con. Do làm ra tiền nên không ai làm gì con được. Con đã bất chấp những quan tâm của người khác, đặt họ ra ngoài cuộc đời mình. Quá trình qua mình không cảm thông mọi người, bây giờ già rồi làm sao dám nhận sự quan tâm của gia đình?” Lúc còn mạnh khỏe, không hề bình tâm suy xét, chỉ biết đua đòi, chà đạp trên mọi cảm xúc người khác. Cho đến gần già, tuy gia đình sẵn lòng vui vẻ tha thứ, quan tâm chăm sóc mình, nhưng do lầm lỗi đã tạo nên lương tâm cắn rứt, không chịu nổi khi nhận lòng tốt của gia đình. Tuy có nhiều tiền, nhưng chính những đồng tiền ấy lại làm cho mình lầm, cứ thế sống sai, cho đến khi già mới biết, mọi việc trễ tràng, thế là tìm nơi để chôn đời mình vào chốn cô đơn, bất lực, cuộc sống phải nương nhờ vào người khác chăm sóc. Khổ không?

Anh có thể viết một cuốn sách rất hay về một nhân vật nổi tiếng, nhưng những điều hay kia cũng chỉ là của người đó, còn mình thì sao? Có người suốt đời lo đọc sách miệt mài, nhưng với cuộc sống gia đình thì đối xử rất tệ. Cô bạn đời đòi ly dị thì anh ta cầm cuốn sách đạo làm vợ và bảo cô ta đọc đi. Sách là sách, nhưng anh vẫn là anh. Những lịch sự vừa phải, những quan tâm cần thiết, những thông cảm tối thiểu với người gần mình nhất, anh không làm được. Hóa ra anh chỉ giỏi nói dùm cho người khác còn mình thì không dính dáng được chút nào. Có viết hay không thì người ta cũng đã nổi tiếng, đâu cần đến mình? Nhưng không tự sửa mình thì lại làm phiền đến những người liên hệ. Đây là do kiến thức đánh lừa nhận thức. Có người có thể lên đến tận cung trăng vũ trụ, nhưng không biết nhà sống bên cạnh mình là ai, có thể biết đến những chuyện vĩ đại của thế giới, nhưng quên gật đầu hoan hỷ khi người khác chào mình. Cho thấy con người ta dễ bị hấp dẫn bởi những thứ xa vời, còn tính thực tế và lòng nhân với nhau thì quá thiếu. Đó là lý do của không ít người sau khi cầm được tấm bằng học vị rất cao, nhưng khi ra thực tế thì thua những người từng trải nghiệm. Yếu đuối, thiếu tự tin, thích dễ dàng, thiếu khả năng vượt khó, đưa đến đời sống lừ đừ, tê liệt, sai lầm, khổ đau, đó là hệ quả của những người chỉ biết đi trên trời mà bỏ quên mặt đất này.

Trong lớp thi toán, mười bạn làm bài có đáp số đúng giống nhau, nhưng cách giải thì có khác. Nếu phải chọn ra một bài ưu hơn hết, tất nhiên phải chọn người có cách giải bài toán ngắn gọn, chính xác, đưa đến kết quả nhanh nhất, còn những bài giải lòng vòng lê thê thì tầm thường hơn. Cũng thế, người khéo giáo dục là đưa ra những bài học, giả thiết ngắn gọn, vừa đủ để kích hoạt trí thông minh cho học sinh. Đâu có đề toán nào giải xong mà còn dư thừa giả thiết? Giáo dục là cách kích hoạt để con người phát triển trí thông minh chứ không có nghĩa một mực rập khuôn nô lệ kiến thức. Bởi nếu phải học nhớ cho nhiều và cho là giỏi thì chúng ta ăn rồi ở không cả đời để đọc sách cũng không thể đọc hết sách trên đời này được. Lý thuyết là một màu xám, cây đời thì mãi xanh tươi. Chúng ta có đọc hết sách của cuộc đời này chăng thì cũng chỉ là đi theo những gì người khác đã bỏ, đã lạc hậu và mình cũng bị tuột hậu, dùng được vào đâu? Nếu chúng ta chỉ có rập khuôn, nhồi nhét vào thì có khác nào anh chàng mọt sách kia đã từng lầm lỗi. Khi ta ném một hòn đá, nếu là con chó thì nó chỉ biết lù đù chạy theo hòn đá kia, nhưng nếu là chú sư tử oai hùng thì sẽ quay chộp trở lại ngay bàn tay người ném. Phải tìm ra cội nguồn phát xuất ra viên đá thì mới là sư tử oai hùng. Nếu chạy theo viên đá thì chỉ là những chú chó ngoan ngoãn yếu đuối kia thôi. Nếu người thông minh thì phải tìm lại xem, cái gì là cha đẻ của những thứ văn minh trên đời đang có? Đâu có một triết lý nào từ trên trời rơi xuống? Chỉ tại trí tuệ con người. Trí tuệ là cha đẻ của mọi thứ văn minh triết lý trên cuộc đời này. Tất cả các phương pháp học và thực hành cũng nhắm đến khai triển trí tuệ. Khi trí tuệ đã sáng, chúng ta sẽ kế thừa những gì đã có để phát huy cho tốt hơn, gọi là tái tạo. Những gì chưa có thì chúng ta sáng tạo mới. Tái tạo và sáng tạo là trí tuệ sống động, làm mới tốt hơn chứ không phải rập khuôn nô lệ kiến thức. Trên nền tảng đó, con người chúng ta mới có đầy đủ nghị lực, tự tin và đưa đến thành đạt.

 


2/ TÍNH TỰ CHỦ - THÍCH NGHI.

Khi bố mẹ bảo gì con cái nghe theo đấy, đó là một người con ngoan. Nhưng nếu bố mẹ không biết cách dạy một người con có tính tự lập, tự chủ, luôn ra điều lệnh bảo nó nhất nhất phải tuân thủ theo sự sắp đặt của mình, lâu ngày như thế nó sẽ quen nghe theo, nương tựa bố mẹ, thụ động, dẫn đến thiếu tự tin vào bản thân cho nên rất yếu đuối, sợ sệt khi bước ra trường đời. Một chú chim con được chim bố mẹ tập bay rất kỹ cho nên khi rời tổ ấm để tự kiếm sống chú rất vững vàng. Con hổ con hay chó con đều được bố mẹ nó tập dợt những đòn rất căn bản nên khi lìa đàn tự sống, chúng oai hùng, mạnh mẽ vô song. Thông thường khi mới bước ra trường đời, bố mẹ thường lo sợ con cái mình yếu đuối, thiếu nghị lực, không thích nghi kịp với môi trường trong khi chúng ta lại quen dạy chúng điều đó. Nuôi dạy một đứa trẻ, nếu không trông xa nhìn rộng, chúng ta chỉ thấy có mình và gia đình mình, uốn nắn nó phải rập khuôn theo sở thích và tư duy của mình thì nó sẽ bị đóng khung trong tổ ấm đó, khi ra ngoài nó phải yếu đuối thất bại thôi. Ngược lại, nếu biết nhìn vào chân trời cao rộng, tập cho nó những điều căn bản để tự nó có khả năng vươn cao và xa hơn. Không nên ra điều và rập khuôn trước, nên khéo khơi dậy tính tò mò sáng tạo của trẻ. Nếu để cái ly, đặt chậu hoa, làm một việc gì đó không sai thì đừng có sửa. Nếu cứ lên kiểu người lớn sửa đổi mãi thì con sẽ thấy nó không có giá trị, chỉ biết ngoan ngoãn nghe theo, ỷ lại và nương tựa vào người khác, nó sẽ trở nên thụ động, yếu đuối, thiếu tự tin, thất bại. Bất kể là trai hay gái, vừa mới biết đi thì tập quét nhà, lớn một chút thì giúp việc dọn nhà, phụ bếp, trưởng thành hơn thì nên tập đi chợ lo bữa cơm cho gia đình. Không phải bắt làm nhiều quá bóc lột sức lao động của con trẻ ảnh hưởng đến trí thông minh, chỉ là khéo léo tập tính thích nghi. Không có ai lương thiện bằng người lao động chơn chính. Sản phẩm chính tự tay mình làm ra, tâm hồn không đen tối nên tinh thần rất vững vàng, mạnh mẽ. Chính lao động chân chính sẽ khiến chúng ta có tính nhân từ, đưa con người gần lại với nhau hơn. Rèn luyện như vậy lâu ngày, tinh thần trở nên mạnh mẽ, vững vàng nên nó sẽ tự lập, tự tin, không lệ thuộc vào bất cứ điều gì cho nên luôn luôn mạnh mẽ, thành đạt. Đồng thời, từ trong rèn luyện lao động, tính hy sinh nghĩ cho người khác, lòng nhân từ sẽ được hình thành cho nên ra đời con trẻ rất siêng năng, biết quan tâm đến người khác, lúc nào cũng làm được việc tốt trong tầm tay. Vào nhà người khác, thấy chủ nhà pha nước thì liền đỡ tay pha giúp, thấy người khác khuân đồ nặng thì ra tay đỡ dùm, thấy nhà dơ thì liền giúp một tay quét dọn, ra đường thấy người yếu đuối thì nhường chỗ ngồi tốt, đỡ nâng. Một con người như thế ai thấy cũng có thiện cảm. Như thế, xã hội này sẽ nuôi nó chứ không phải chỉ một mình cha mẹ nuôi nó. Khi đã lớn khôn, tập cho con khéo thích nghi trong mọi hoàn cảnh. Hoàn cảnh thuận hay nghịch, trái ý hay vừa lòng gì cũng cảm thấy bình thường. Trời nóng quá thì có quyền tìm quạt cho mát, nhưng không có quyền có tâm khó chịu, bực bội, nôn nóng mà phải lặng tĩnh, bình thường. Thấy người đó làm trái ý nghịch lòng, cũng bình thường, tâm không cảm thấy khó chịu gì cả. Cứ ngay chỗ khó chịu đó mà rèn luyện, tu tập cho được bình thản thì sau này mới có đủ nghị lực, tính thích nghi tốt và thành đạt được. Như một trái sầu riêng còn nhiều gai, mỗi ngày gọt bớt một ít, lâu ngày sẽ được trơn láng, tròn vìn. Cảnh nghịch có tung hoành đến đâu, chúng ta cũng không thèm vội phán xét mà nên lóng lặng an tĩnh nội tâm trước, chỉ nhớ tìm lấy sự trong lặng trên nó, tâm mình bình thường, an nhiên. Cứ như thế, mỗi ngày một chút, tập lâu thành quen, tâm mình trở nên thuần thục, không biết ngán sợ hoàn cảnh nào cả, chỉ là bình thường, an nhiên, sự thành đạt từ đó mà có được. Đang sống ở xã hội hiện đại, nếu phải đến làm việc ở một môi trường sống bằng tình cảm, ít hiện đại hơn, chúng ta cũng thích nghi, làm việc bình thường. Đang sống tại một hoàn cảnh lạc hậu, có duyên phải đến làm việc ở một nơi văn minh hiện đại, do sẵn có trí tuệ và năng lực, chúng ta cũng kịp thích nghi và thành đạt bình thường. Chỉ cần bình thường, không có tâm khó chịu, cộng với trí tuệ và năng lực thì môi trường nào chúng ta cũng theo kịp, dễ dàng thích nghi, cuộc sống từ đó mà được thành đạt.

Chúng ta thường nghe nói: “Đáo xứ tùy duyên quân tử chí, nhập thiền phương tiện trượng phu tâm.” Tức là đi đến bất cứ nơi nào, chúng ta đều có khả năng tùy thuận được trên tất cả các cảnh duyên ở đó, không có mảy may thích thú hay bực bội khó chịu, đó là chí của người quân tử. Vào cửa thiền, chúng ta có được nội tại bất biến tùy duyên, khéo léo phương tiện uyển chuyển, tùy duyên thích nghi, không bị một pháp nào làm ngăn ngại, đó là tâm của bậc trượng phu. Muốn được như thế, quý vị phải luôn luôn khéo léo vận dụng công phu tu tập trên mọi cảnh duyên. Nếu có một điều gì khiến lòng mình còn cảm thấy khó chịu, chưa bình thường được, chưa vượt qua nổi thì chúng ta chưa phải là một con người xứng đáng trong cuộc đời này. Phải nổ lực dốc sức công phu tu tập nhiều hơn để bình thường được trên nó thì mới có được tâm của bậc trượng phu, chí của người quân tử, mới xứng đáng làm người sống trên cõi đời. Trong từng tâm niệm, từng hoàn cảnh, từng sự cố, từng con người, chúng ta nên rèn cho tâm mình bình thường. Được như vậy thì khi ra cuộc đời làm ăn, quý vị sẽ dễ dàng thích nghi với mọi điều kiện thuận và nghịch, thành và bại, sẽ có đủ năng lực bình tĩnh mọi lúc mọi nơi, trí tuệ sẽ sáng suốt, mọi quyết định chính xác không nhầm, đưa đến thành công, an ổn trong cuộc sống.

 


3/ KHÔNG NGÔN NGỮ.

Thông thường con người chúng ta tiếp xúc với nhau, biểu đạt với nhau qua hai loại hình ngôn ngữ, lời nói (nói cho nhau nghe) và cơ thể (diễn tả bằng hành động). Nếu chỉ có thế thì chưa đủ điều kiện để đưa đến kết quả mỹ mãn. Anh chiến thắng được vui thì tôi thua và phải tủi buồn hay oán hận. Vì có thế lực hơn cho nên tôi ra lệnh anh phải nghe chứ không phải anh sẵn sàng mở lòng để đón nhận lời tôi. Nếu chỉ có thế, chỉ sử dụng hai loại hình ngôn ngữ này thôi thì chúng ta mới chỉ dùng được phần sanh diệt, phần động của cuộc đời, nó chỉ chinh phục nhau chứ chưa có giá trị thần phục, tôn trọng khâm phục, cảm hóa lẫn nhau. Hầu hết con người chúng ta thường chỉ mới dùng đến loại hình có ngôn ngữ, có hình tướng của ngôn ngữ mà không biết rằng, không ngôn ngữ cũng là một loại ngôn ngữ. Nếu biết dùng thêm loại hình ngôn ngữ vô ngôn này nữa thì tính hiệu quả sẽ được thay đổi đi rất nhiều.

Lên một buổi họp, nếu chúng ta nóng lòng quá với những gì mình đắc ý chuẩn bị nói ra thì nét mặt mình sẽ mất thần sắc, tính thần phục bị hạ xuống, kết quả căng thẳng, không được tối ưu. Cũng một buổi họp, những gì cần thiết thì nên chuẩn bị chu đáo từ hôm trước. Bước lên bàn họp với dáng vẻ bình dị, vui nhẹ, khoan thai, trong đầu không nghĩ ngợi gì cả. Có hào hứng đắc ý điều gì đó cũng bỏ qua, có bực bội ai đó cũng bỏ qua, có cảm thấy quan trọng ai đó cũng bỏ qua, cứ thế bỏ qua tất cả, tâm lặng sáng ngời, nở nụ cười nhẹ chan hòa, thân mật. Từ tinh thần đó, dung nhan toát lên thần sắc rất đặc biệt khiến mọi người bị cuốn theo vào mình giống như dòng nước bị cuộn vào một cái phễu, trông chờ, sẵn sàng nghe mình nói. Khi ấy, chúng ta chỉ cần nói nhẹ thì mọi người rất muốn nghe theo, kết quả tốt hơn rất nhiều. Mới thấy, không nói gì cũng là một cách nói và đó là một cách nói rất hữu hiệu, không thể thiếu trong cuộc sống. Thường ngày chúng ta hăng hái quá, đua theo tốc độ quá mà quên lưu tâm đến tính hiệu quả cho nên chỉ biết dùng loại hình ngôn ngữ có tướng sanh diệt, vì thế dễ làm tổn thương nhau, đưa đến kết quả không nhiều. Nếu ai khéo vận dụng sự thanh tu, dùng thêm loại hình ngôn ngữ không lời này nữa thì mới thấy hết tiềm năng, giá trị tuyệt vời nơi chính mình. Tương tự, có lúc không làm gì hết cũng là một cách làm, có những sự việc chỉ cần nghe rồi thôi, không giải quyết gì hết cũng là một cách giải quyết ưu việt, quý vị khéo léo vận dụng đúng lúc sẽ cảm nhận được tính hiệu quả, lý thú. Bằng cách này mọi người thuận theo mình một cách tự nguyện, không bị tổn thương.

 


4/ CHO ĐIỀU NGƯỜI KHÁC CẦN.

Một Bác sĩ gốc người Việt nam nhưng sang Mỹ từ bé. Cô này phát tâm làm nhiều việc thiện nguyện tại quê nhà Việt nam mình. Cùng làm việc tại Việt nam, có một Bác sĩ là bạn tại Sài Gòn hỗ trợ, tư vấn tổ chức. Tâm lý sinh viên Việt nam thấy Bác sĩ nước ngoài về thì muốn tò mò học hỏi khiến vị Bác sĩ ở Sài Gòn thường bị bỏ rơi. Trong một lần đến thăm Thiền viện, cô Bác sĩ ở Mỹ thưa với quý thầy: “Thưa thầy, con muốn làm những việc thiện nguyện ở Việt nam thì không thể thiếu sự giúp đỡ của vị Bác sĩ bạn con ở Sài Gòn, nhưng không hiểu vì sao cô bạn thường tỏ ra khó chịu với con, từ đó các ý kiến thường xảy ra trái chiều, rất khó chịu. Con phải làm sao?” Quý thầy nói, cô nên cất giấu đi những gì cô cho là hay giỏi, tâm đắc và chỉ cho ra đúng thời điểm, đúng nơi chốn, đúng đối tượng đang cần. Với người bạn mình, cô nên có tâm học lấy một điều gì đó ở họ dù điều đó mình đã biết, cô bạn ấy sẽ rất vui, sẽ cộng tác cùng làm nên công việc tốt cho nhiều người. Nghe nói xong, cô ta chiêm nghiệm, gật gù, thấy đúng. Con người thường thích lên giọng thầy đời, ưa dạy người khác hơn là tranh thủ học lấy một điều gì đó mình cần. Chúng ta không thể biết được những gì mình chưa biết cho nên việc học sẽ không bao giờ là tận cùng. Những người luôn luôn khéo học hỏi ở mọi lĩnh vực, người ấy luôn tự chủ và thành đạt. Đặc biệt hơn, có khi không phải là điều mình cần hay chưa biết, nhưng vì muốn tiện việc giúp ích cho nhiều người, để cho người muốn dạy được vui, chúng ta cũng sẵn sàng học hỏi để cho người khác được dạy. Họ cần dạy thì mình cho họ điều kiện để được dạy, cho họ vui. Thế thôi. Không quan trọng mình, người khác cần gì nếu mang đến lợi lạc chính đáng cho họ, chúng ta sẵn sàng cho ra.

Cứ thử một lần thảnh thơi ngồi an nhiên, lặng lẽ, không tư duy suy nghĩ gì cả, chúng ta sẽ thấy được một lẽ thật, tột cùng những thứ trong đời chỉ là một giấc mộng. Khi ngủ thì mơ thấy đủ thứ, tỉnh dậy rồi, mọi thứ trong mộng không còn giá trị gì. Khi mê, quên giác thì chúng ta như người ngủ say, tranh giành lắm chuyện. Khi lắng lại, giác sáng mạnh rồi mới sực tỉnh ra, năng lực lặng sáng lạc an không động ngay đây mới còn mãi, mọi thứ chỉ là trò đùa. Học hay dạy chỉ là một trò chơi của trẻ con trong đời, là người lớn có đủ năng lực thì nên ban cho họ chứ không nên tranh giành ở họ. Tự tại, hoan hỷ ban ra, được vậy thì cuộc sống sẽ thuận lợi và vui hơn nhiều.

Có lần quý thầy được quý phật tử mời đi giảng ở một vùng miền khá xa, mọi người ở đây chưa hiểu và thông cảm mình. Có phật tử báo: “Bạch thầy, có người chưa thông cảm, muốn làm khó thầy nên cho người theo dõi để về nói xấu chê bai thầy đó.” Quý thầy nói: “Không sao, quý thầy sẽ biết nên làm gì.” Khi người ta muốn chê bai, phỉ báng, mình cứ làm một điều gì đó vụng về để cho họ có cơ hội chê bai là xong. Khi được chê thỏa mãn thì họ không làm gì nữa cả, sau đó mình nói những điều lợi ích cần thiết cho những người khác cần nghe. Thế thôi. Vì chưa giác sáng, còn trong mê lầm, quan trọng mọi thứ nên họ muốn khen chê. Nếu khen chê mà người ta được vui thì mình cũng nên tôn trọng niềm vui của họ. Cuộc đời này ngắn ngủi lắm, chúng ta nên tôn trọng sở thích của mỗi người để họ có cơ hội được làm kẻo không còn kịp. Thấy đủ duyên thì giúp cho họ giác tỉnh, còn chưa đủ duyên thì thôi. Không nên dại dột tham lam cho mình là đúng rồi muốn cả nhân loại phải tin theo mình, đó là cố chấp, chưa biết quán xét thời tiết nhân duyên, sẽ đưa đến phiền não, thất bại, khổ đau. Nếu người đã giác tỉnh thì sẽ thấy rõ, khen cũng giả mà chê cũng không quan trọng gì. Họ cần gì thì mình cho cái đó. Người muốn chê bai thì tạo điều kiện cho họ chê bai, rồi thôi. Người muốn nghe pháp để tu sửa thì nói pháp, thế thôi. Nhìn nhận và khéo sống tùy duyên như thế thì cuộc sống an lạc vô cùng.

Nếu khéo tu tập, nhận ra và sống bằng trí tuệ chân thật rồi thì sẽ có sự an định, giác sáng, ngập tràn niềm vui. Mọi thứ khen chê đúng sai phải trái hơn thua tự nó mất giá trị, không còn đủ sức chi phối chúng ta nữa. Như một người đã được ăn uống đồ ngon no nê thì không còn màn đến tách nước lã. Lúc này đã có vốn, ai cần gì mình sẵn sàng ban cho họ. Nếu họ cần phần thắng thì nhường, cần chỉ trích phỉ báng thì tạo điều kiện cho người ta chê bai phỉ báng, cần làm thầy dạy đời thì tạo điều kiện cho họ dạy dỗ, ai cần một điều gì đó mà chúng ta chưa đủ duyên giúp thêm ý kiến tốt hơn thì chỉ nên tôn trọng cho người ta làm. Trả lại mọi thứ cho đời, cho người, mình vẫn là mình, rỗng rang, thênh thang, như đã từng lạc an từ muôn thuở.

 


5/ NÊN KHAI THÁC CHẤT NGƯỜI.

Một ly cà-phê có cả đường lẫn vị đắng của hạt cà-phê. Nếu người nào không khuấy đều lên cho đường hòa tan mà uống thì sẽ than cà-phê đắng quá. Cho đến khi uống hết phần đắng của cà-phê rồi, đến phần đường còn đọng dưới đáy ly thì than cà-phê sao mà ngọt như mật. Cuộc sống mỗi một con người cũng tương tự, nhân vô thập toàn. Ai cũng có điều hay và ai cũng còn tồn tại những điều chưa được tốt. Nếu cứ chăm bẳm nhìn vào lỗi lầm của người ta mà không nhìn nhận mặt tốt của họ thì thấy người đó sao mà xấu tính, cứ làm mình bực bội hoài. Đó là quên khuấy đường lên mà đi than phiền ly cà-phê sao mà đắng quá. Rồi người ta ngoan ngoãn nghe theo mình một cách thái quá đến nổi thụ động, không linh hoạt thì mình cũng chán chường, than con người sao mà nhu nhược, khờ khạo quá. Đó là chỉ uống đường mà không pha đủ cà-phê nên cũng than sao mà ngọt quá, ngán quá. Người uống cà-phê sành điệu tất nhiên phải khuấy đường hòa vào vừa đúng với lượng cà-phê, sẽ có một ly cà-phê đặc biệt. Tức là biết nhìn vào những mặt tích cực, mặt tốt của người khác; biết học lấy kinh nghiệm từ những điều chưa tốt; biết xây dựng nhau đúng nơi, đúng lúc, khi đủ duyên; biết tôn trọng, bỏ qua những tồn tại mà khả năng người đó chưa thể vượt qua được. Như thế, nhìn ai cũng dễ thân thiện, cuộc sống sẽ được vui và cảm thấy có ý nghĩa hơn.

Hơn nữa, chín người mười ý. Tâm ý con người thay đổi phức tạp, biểu hiện thất thường, nhưng khi nghĩ lại, lắng lại rồi thì ai cũng biết sửa sai, hướng đến chất người vốn hiền hiện. Cũng như dọn một bàn cà-phê với nhiều loại ly tách khác nhau. Nếu người chỉ chuộng hình thức ly tách bên ngoài thì biết rằng, người ấy chưa biết thưởng thức cà-phê. Nếu người sành điệu thì chỉ chọn ly cà-phê nào có hương vị hảo hạng. Cũng thế, chúng ta nên uống cà-phê chứ đừng uống ly tách, phải nhìn vào bản chất hiền thiện vốn sẵn của mỗi người để thông cảm và sống với nhau chứ đừng cố chấp nhìn vào những sai sót nhất thời bên ngoài rồi khinh thường, chia rẻ, khiến cho cuộc sống trở nên phức tạp, đau khổ.

Tại một vùng đất vừa mới chuyển đến ở, mọi người xung quanh chưa hiểu và thông cảm cho nên có người thường làm khó quý thầy. Có những điều mình đúng, nhưng người ta vẫn cứ la rầy ép mình. Trong mọi tình huống đúng hay sai, quý thầy đều ngoan ngoãn xin lỗi. Đôi khi quý thầy mang quà đến biếu chỉ để được xin lỗi rồi thôi, không có điều kiện gì cả. Nhiều lần như thế, không ai chịu nổi cách hành xử của quý thầy. Mọi người cho rằng làm như thế thì người khác họ cho là nhu nhược nên lấn hiếp mình mãi. Quý thầy chỉ cười mà không nói gì. Cho đến bây giờ, chính những người đó là người thông cảm, thân mật và hết lòng hỗ trợ quý thầy. Vì sao? Nếu chúng ta quan trọng quá mọi thứ và hành xử theo sự đúng sai bên ngoài thì chỉ là cãi vã, trừng phạt lẫn nhau, không có ý nghĩa gì cả. Nhưng quý thầy xem nhẹ mọi thứ kia mà nhìn vào lòng người đang bị ngủ quên sâu thẳm bên trong để khơi gợi cho nó thức giấc, sống dậy. Mỗi một lần xin lỗi là một lần làm cho lòng người chùn lại, nhiều lần xin lỗi sẽ khiến lòng con người ta nghĩ lại. Là con người thì khi nghĩ lại, ai cũng cảm thấy xốn xang, ngay đó lòng nhân, chất của con người được khơi dậy. Khi chất người đủ lớn thì tự nhiên con người ta ngoan hiền, dễ thương thôi. Đức Khổng tử nói: “Phi trắc ẩn chi tâm, phi nhơn giả.” Không có lòng trắc ẩn thì không phải là người. Là con người thì ai cũng có lòng trắc ẩn. Một người dù ác đến đâu, nhưng cũng có lúc nghĩ lại rồi cảm thấy khó chịu trong lòng, đó là chất người. Có người ban ngày không kịp tỉnh táo suy xét, lỡ làm những điều không nên, đêm về gẫm lại cảm thấy xốn xang, đó là chất người. Chúng ta nên khai thác tính người thì được sống với nhau an lành, tốt đẹp. Nếu cứ chọc cho người khác bực tức, căm hận… đó là khai thác tính thú trỗi dậy thì đừng trách người ta sao mà quá ác. Bởi chúng ta khai thác thú tính thì phải hứng chịu sự phản ứng của thú thôi. Hằng ngày quý vị phải tiếp xúc với rất nhiều tình huống khác nhau, nếu quý vị thử lắng tâm mình lại, đừng vội vàng hấp tấp quá, đừng phán đoán nhanh quá, nên tôn trọng sự thanh thản và sáng suốt ở tâm hồn, xem nhẹ mọi thứ đúng sai, hơn thua, phải trái bên ngoài, không nhìn thiển cận quá, nên trông xa nhìn rộng, khéo hành xử nhẹ nhàng, nhắm đến hiệu quả chắc thật lâu bền hơn, chúng ta sẽ khơi gợi được tính nhân nơi mọi người. Có vậy, cuộc đời này sẽ được mát mẻ, nhẹ nhàng, thanh thoát lạ thường lắm.

Có người nói, mình làm như thế nhỡ người kia không biết mà họ cứ làm tới hoài thì phải làm sao? Quý thầy nói, đó là quý vị còn quan trọng mọi thứ đúng sai, phải trái, hơn thua bên ngoài quá nên mới trông chờ người ta hiểu mình. Thử nghĩ khi già yếu nằm trên giường bệnh, những thứ kia có sử dụng vào đâu được không? Có còn giá trị gì không? Người ta có hiểu hay không hiểu mình thì họ cũng không gánh bớt phần nào sự đau đớn nhọc nhằn cho mình. Nhưng nếu hằng ngày quý vị nhường nhịn được thì tâm hồn mình dễ trở nên thanh thản, nhẹ an. Chính tâm đó mới cứu được mình lúc này. Biết vậy, chúng ta không cần những thứ bên ngoài đó nữa thì mong người ta hiểu mình làm gì. Hơn nữa, là con người thì ai rồi cũng có lúc nghĩ lại cho nên sẽ có lúc người ta nhận ra thôi. Nếu chưa nhận ra thì cho họ một thời gian nữa chứ đừng ép người ta phải hiểu mình sớm quá sẽ mất hết ý nghĩa. Có những điều bị oan, nếu chúng ta minh oan liền thì họ chỉ xin lỗi rồi thôi. Nhưng nếu quý vị cứ vui vẻ bình thường như vậy, không cần minh oan, không cần người ta hiểu mình. Một thời gian khá dài, tình cờ họ phát hiện ra là đã hiểu lầm mình, lúc ấy sẽ ân hận, cảm phục và họ muốn sống tốt để bù đắp lại cho mình thật nhiều mà cũng không thấy xứng ý. Như vậy không có giá trị hơn sao? Trong khoảng thời gian bị oan đó là chúng ta đang cho họ vay giá trị. Khi phát hiện ra thì chúng ta được lời rất nhiều. Vậy thì hôm nay người ta chưa hiểu, ngày mai họ sẽ hiểu. Ngày mai chưa hiểu thì tháng sau sẽ hiểu. Tháng sau chưa hiểu thì năm sau sẽ hiểu. Năm sau không hiểu thì đời sau sẽ hiểu. Đời sau không hiểu nữa thì đến khi thành Phật rồi họ cũng sẽ nhận ra thôi, không có vị Phật nào mà không nhận ra tất cả mọi điều cả. Cho vay càng lâu thì giá trị càng lớn, là người có nghị lực và trí tuệ, biết sống, biết nhường nhịn và thông cảm cho mọi người thì có gì phải giành phần thắng về mình? Không cần người ta phải hiểu mình làm gì nữa.

 


6/ CHIẾN THẮNG ĐÍCH THỰC.

Thế gian ai cũng thích giành phần thắng về mình. Khi được chiến thắng thì huênh hoang, phấn khởi, khi thất bại thì chán nản, ê chề. Cũng vì giành chiến thắng theo kiểu cương mà không biết nhu này cho nên dễ có sự không vui với nhau, ngày càng đánh mất lòng nhân trong tâm hồn hồi nào không rõ. Lòng nhân mất thì tâm hồn cũng mất. Sống không tâm hồn, chỉ là một cuộc sống thực vật, không có lẽ sống.

Hằng ngày anh giành chiến thắng, tôi sẵn sàng nhường cho anh, tôi chỉ lặng thầm làm việc có ý nghĩa cho mình và người, có ích cho xã hội, không so sánh thắng bại với ai cả. Được chiến thắng, anh ta hiêu hiêu tự đắc, vênh váo nghênh ngang, tỏ ra anh hùng cái thế, mạnh mẽ vô song. Đến khi gặp chuyện không may và phải thất trận, anh ta chán nản yếu xìu như cọng bún thiu, không còn sống nổi. Nếu thật sự là mạnh mẽ anh hùng, sao lúc này không dám anh hùng mà đánh mất hết hào khí của mình đi đâu hết? Như thế có thực sự là anh hùng chưa hay chỉ là anh hùng rơm, chỉ bùng cháy nhất thời rồi vụt tắt, trống phộc không có gì chắc thật? Họ chỉ sống được trong hoàn cảnh thuận lợi, thành công mà không sống nổi khi công không thành, danh không toại. Nhưng cuộc đời đâu phải bao giờ cũng trải nhung thảm để đón mọi người?

Chúng ta thường nghe nói: “Cạn sòng mới biết rô trê”. Khi mặt nước đầy, hồ trở nên trong trẻo mát mẻ. Chú cá nào cũng tranh nhau táp mống, tự đắc, anh hùng. Gặp trời khô hạn, nước hồ cạn kiệt, đó đây còn vài vũng nước chân trâu. Lúc này những chú đắc thắng lòng tong kia phơi thây chết sạch. Loài còn lại chỉ là những chú cá rô, cá trê vốn sống lặng thầm dưới bùn. Trên đời này có không ít người bao giờ cũng chỉ biết nghĩ về mình, không biết đến người khác nên luôn tranh giành, tự cao, đắc thắng. Kết quả là họ chỉ sống được trên hoàn cảnh thuận lợi được thắng. Khi bị nghịch cảnh thì họ buồn khổ ê chề, không còn sức sống, không muốn sống nữa. Đó chỉ là loài lòng tong chỉ đắc thắng được khi nước mát, đến khi nước cạn chúng phải bị chết phơi thây. Có những người sống rất bình dị, nhẹ nhàng, nhu nhuyến, biết quan tâm người, biết nhường nhịn người khác, tự tâm lặng thầm nuôi chí phấn đấu theo lý tưởng mình đã chọn. Khi thuận duyên họ cũng thắng lợi bình thường như bao nhiêu người khác. Khi gặp cảnh nghịch thì họ lại hào hùng hơn bao giờ cả. Người như vậy mới làm được vị tướng trên cả trận thắng lẫn cả trận bại. Chúng ta thường chỉ làm được vị tướng trên trận thắng mà ít có ai làm được một vị tướng khi bại trận. Là một vị tướng hào hùng thật sự thì dù có thắng trận hay bại trận gì, chí khí hào hùng của họ vẫn không đổi, đó mới đích thực là chí khí của một vị tướng. Đằng này khi thuận thì anh hùng cái thế, lấn lướt mọi người, khi nghịch thì chán mỏi ê chề, không chút nhuệ khí, đó chỉ là anh hùng rơm, xứng đáng cho chúng ta bắt chước theo sao?

Cô con gái hay than thở với cha, sao bất hạnh này vừa đi qua thì bất hạnh khác đã vội ập đến với mình và cô không biết phải sống thế nào. Có những lúc quá mệt mỏi vì vật lộn với cuộc sống. Cô đã muốn chối bỏ cuộc đời đầy trắc trở này.

Cha cô vốn là một đầu bếp. Một lần nghe con gái than thở, ông dẫn xuống bếp, bắt ba nồi nước lên lò và để lửa thật to. Khi ba nồi nước sôi, ông lần lượt cho cà rốt, trứng và hạt cà phê vào từng nồi riêng rồi lại để chúng tiếp tục sôi, lặng lẽ không nói một lời. Người con gái sốt ruột không biết cha mình định làm gì. Lòng cô đầy phiền muộn mà ông lại thản nhiên, nhẹ nhàng đun nấu.

Nửa giờ sau người cha tắt bếp, lần lượt múc cà rốt, trứng và cà phê vào từng tô khác nhau. Ông bảo con gái dùng thử cà rốt. “Mềm lắm cha ạ!”, cô gái đáp. Sau đó ông bảo con bóc trứng và dùng thử cà phê. Cô gái cau mày vì cà phê đậm và đắng.

- Điều này nghĩa là gì vậy cha? – Cô gái hỏi.

- Ba loại thức ăn này đều gặp phải một nghịch cảnh như nhau là nước sôi 100 độ C. Tuy nhiên mỗi thứ lại phản ứng thật khác. Cà rốt khi chưa chế biến thì cứng và trông rắn chắc, nhưng sau khi luột sôi chúng trở nên rất mềm. Còn trứng lúc chưa luột rất dễ vỡ, chỉ có một lớp vỏ mỏng bên ngoài bảo vệ chất lỏng bên trong. Sau khi qua nước sôi, chất lỏng bên trong trở nên đặc và chắc hơn. Hạt cà phê thì thật kỳ lạ, sau khi sôi, nước của chúng trở nên rất đậm đà.

Người cha quay sang hỏi cô gái:

- Còn con? Con sẽ là loại nào khi gặp phải nghịch cảnh? Con sẽ như cà rốt, bề ngoài tưởng rất cứng cáp, nhưng chỉ với một chút đau đớn, bất hạnh đã trở nên yếu đuối chẳng còn chút nghị lực? Con sẽ là quả trứng, khởi đầu với trái tim mỏng manh và tinh thần dễ đổi thay. Nhưng sau một lần tan vỡ sẽ chín chắn và cứng cáp hơn? Hay là một tách cà-phê, nước càng sôi thì vị nó càng đậm đặc.

Cuộc sống không thiếu những người họ cảm thấy cuộc đời này lý thú và ý vị hơn khi vượt qua cảnh nghịch, biết đứng dậy sau khi bị trượt ngã. Con người chúng ta ai cũng tham sống sợ chết. Nhưng khi một người đòi tự tử thì biết đang gặp những trắc trở quá sức chịu đựng của họ rồi. Lúc này đầu óc đang căng thẳng và không còn chỗ trống để nghe triết lý gì khúc chiết cao siêu hơn. Nếu người cha nghe con nói vậy liền nóng lòng gọi lại xổ ra một lô triết lý mà không hiểu được cảm giác của con lúc đó là gì thì có phải là làm cho con mình căng thẳng và trầm trọng hơn không? Thật may mắn cho cô gái này đã có một người cha khá đặc biệt. Khi nghe con nói, ông không quan tâm, xem như chưa nghe thấy gì, chỉ là lặng lẽ gọi con vào bếp làm một công việc hết sức bình thường với một phong thái nhẹ nhàng, thanh thoát, gần gũi. Chính phong thái đó đã tạo khoảng không để cho con trông chờ, đã xoa dịu tâm hồn người con. Trước phong thái nhẹ nhàng và khoảng không lặng lẽ kia, cô gái đã lặng người lại, những căng thẳng tự dưng rơi rớt. Ngay đó, nhựa sống, sinh khí bắt đầu nhen nhúm trở lại, người cha chỉ cần khéo léo khơi gợi, cô ta liền tỉnh mộng, phấn phát tinh thần vươn lên khỏi những trắc trở kia ngay. Hằng ngày anh hùng, thành đạt được thì bây giờ cũng phải là quả trứng hay hạt cà-phê chứ không lẽ lại là củ cà-rốt thì yếu hèn quá. Bỏ qua mọi thứ, sống tốt vươn lên. Biết bằng lòng và vươn lên bằng những gì trong tầm mình có được, cuộc sống sẽ trở nên sinh động, lạc quan, yêu đời vô cùng.

 


 

7/ MỌI THỨ TỪ NHÂN DUYÊN, DO DUYÊN MÀ CÓ.

Tất cả chúng ta có mặt với nhau ở đây không phải tự nhiên mà do có nhân duyên với nhau nhiều đời nên nay mới gặp. Có người mình chưa bao giờ biết, nhưng vừa gặp thì thấy thân thiện, quen quen, như đã gặp ở đâu rồi. Có người vừa mới gặp là đã thấy ghét. Đó là dấu hiệu cho thấy mình đã có duyên với nhau từ nhiều kiếp trước, bây giờ mới gặp lại đây. Người mình từng mang ơn thì vừa trông thấy liền cảm mến. Người đã tạo oán thì trông thấy liền bực mình. Con người chúng ta do tạo các nhân duyên thiện ác lẫn lộn nên sanh ra ở cõi ta bà phải kham nhẫn này. Từ duyên mà lại, cũng từ duyên mà tan. Đủ duyên thì còn, hết duyên thì hết. Khi nhân duyên còn thì có phá phách cỡ nào cũng không hỏng được, khi duyên hết rồi thì có níu kéo kiểu nào cũng bị rã tan.

Chúng ta vẫn thường thấy có nhiều gia đình có con rất ngoan và giỏi, nhưng sống với mình chưa được bao nhiêu thì chia tay cõi đời, bố mẹ buồn khóc mãi khó nguôi dứt. Nếu nhìn cho kỹ thì sẽ thấy người ra đi không phải là xấu số. Như người có điều kiện túng thiếu thì phải sống ở vùng nông thôn, người nào có điều kiện hơn thì sống ở thành thị. Nhưng không phải cố định người sống ở nông thôn là phải sống ở đấy suốt đời. Nếu người ấy làm ăn khá giả, đầy đủ trình độ năng lực thì người ta sẽ phải rời nông thôn để lên thành thị tiến thân. Cũng thế, thông thường chúng ta do tạo tác các nghiệp thiện ác lẫn lộn nên mới sanh ra ở cõi người. Nếu phước đức nhiều hơn thì sẽ từ giã cõi người và đi sang một thế giới khác tương ứng với phước nghiệp của mình. Người con kia khi mới sinh ra đã ngoan giỏi hơn người khác rồi, đó là do phước lành vị đó hơn những người bình thường khác, nhưng do một chút duyên thừa nên phải ghé tạm qua cõi người làm con trong gia đình mình một thời gian ngắn thôi. Khi hết nghiệp cõi này, phước của vị đó cao hơn thì cõi người không phải là nơi vị đó dừng ở nữa nên phải chia tay gia đình mình để đi sang một thế giới khác thích hợp hơn. Như vậy, vị ấy có duyên và chỉ ghé qua với mình trong một thời gian ngắn rồi phải đi chứ đâu phải là cái gì của mình và phải ở mãi với mình được. Vậy mà chúng ta lại sanh tình chấp cho đó là con mình thật, là sở hữu của mình nên khi nó chia tay thì áo não âu sầu. Nó đang đi sang một thế giới thích hợp với phước của nó lớn hơn, sung sướng hơn, còn mình ở đây phước đức không bằng nó mà lại khóc cho nó, như vậy có nghịch lý không? Nó đi đến một nơi sung sướng hơn thì lẽ ra nó phải cảm thương mình mới phải. Mình khổ hơn nó thì chính mình mới là người đáng thương. Vậy mà không biết thương để lo cho mình, trở ngược lại đi thương hại cho một người sung sướng hơn, gẫm lại mới thấy vô lý, chưa chắc vị đó đã còn duyên cần tình thương của mình nữa. Như gia đình nọ mới làm thẻ ATM (thẻ tín dụng ngân hàng), không biết từ đâu bỗng dưng trong tài khoản mình có được năm tỷ. Vui mừng hớn hở, chuẩn bị đãi tiệc ăn mừng thì ngân hàng đến xin lại số tiền đó, vì có người ghi lộn số tài khoản chuyển nhầm vào tài khoản của mình. Thế là chúng ta iu xìu buồn bã, vô lý không? Số tiền năm tỷ đó nó chỉ là một sự chuyển nhầm, nó chỉ có duyên với mình trong một thời gian ngắn rồi phải đi đến đúng nơi của nó, vậy mà mình lại chấp cho là của mình rồi buồn. Người con kia cũng thế, nó chỉ có duyên với mình trong một khoảng ngắn rồi nó phải đi theo đường của nó thôi, đâu phải thật của mình? Vậy mà khi mới vào nhà mình một thời gian thì chấp cho là con của tôi cho nên khi nó ra đi thì tôi đau khổ. Đó là do chấp mà phải chịu khổ một cách đáng thương. Tất cả những duyên khác cũng vậy, vợ chồng, bè bạn, người thân, của cải vật chất, nhà cửa… tất cả đều từ nhân duyên mà có. Đủ duyên thì còn, hết duyên thì nó chia tay. Nó là duyên trần chứ không phải thật của mình, mình không bỏ nó thì có ngày nó cũng bỏ mình. Mình không tập bớt dính mắc, lìa dần nó, cho đến khi nó bỏ ra đi thì chúng ta phải khổ thôi. Nên thấy rõ mọi thứ do duyên để bớt dính mắc, không sở hữu, không sai lầm và không có những nỗi khổ đáng thương cho mình nữa. Xin trích dẫn một đoạn văn sưu tầm mà không rõ tác giả để quý vị thấy thêm:

“Sau cơn mưa vào ngày xuân hôm ấy, bạn tôi ngỏ lời từ giã. Tôi kiên quyết đòi tiễn đưa bạn ra đến trạm xe. Bạn đã ngăn tôi lại:

- Dù có tiễn đưa người khác đi cả ngàn dặm, nhưng cuối cùng rồi cũng phải cách biệt, chia tay. Dù thế nào đi nữa thì bạn cũng chỉ có thể đưa tôi đi chỉ một đoạn đường. Thôi thì chỉ đưa tôi đến cửa là ngừng bước nhé!

Tôi đành tôn trọng ý kiến bạn.

Mỗi con người đều chỉ có thể giúp được một giai đoạn trong cuộc sống của người khác. Điều luôn luôn chắc chắn là chỉ có thể đi cùng với người khác để tiễn đưa một đoạn đường!

Bạn thương yêu cha mẹ mình, hy vọng họ sống lâu trăm tuổi. Nhưng trong lúc  bạn đang rất hiếu thuận với cha mẹ, thì họ cũng sẽ rời xa trước mặt bạn, bạn cũng chỉ có thể đi cùng cha mẹ mình duy chỉ một đoạn đường mà thôi!

Bạn yêu thương con cái của mình ư? Từng giờ từng khắc bạn mong rằng mình có thể ngăn gió chắn mưa cho chúng. Vậy mà tuổi bạn đang lớn lên từng ngày. Rồi cũng có một ngày, trước mặt các con, bạn cũng phải bỏ chúng mà đi. Bạn chỉ có thể cùng đi với con cái chỉ có một đoạn đường!
Bạn có cô bạn đời tâm đầu ý hợp, nhưng hai mươi mấy năm trước cô ấy thuộc về cha mẹ cô, vài mươi năm sau cô ấy cũng bị con cái, vận mệnh mà chia cách. Và bạn cũng chỉ có thể đi cùng với cô chỉ một đoạn đường!

Bạn xem trọng tình nghĩa bạn bè, nhưng nếu không phải bạn bè lìa xa bạn, thì chính bạn cũng sẽ phải lìa xa bạn bè. Bạn chỉ có thể cùng đi với bằng hữu một đoạn đường thôi! Cũng vì chỉ có thể cùng đi với nhau một đoạn đường, nên bạn càng thêm trân trọng quí mến những gì mình đang có.

Lúc người ta cơ nhỡ đói rách, sự quan tâm của bạn nên trở thành một quả táo ngọt ngào. Lúc người ta giá rét, sự giúp đỡ của bạn nên biến thành một chiếc áo bông. Lúc người ta vui vẻ hạnh phúc, nụ cười của bạn đáng lẽ nên vui tươi, sáng lạn nhất. Lúc người ta gặp chuyện thương tâm, sự vỗ về an ủi của bạn đáng lẽ nên thật là chân thành thiết tha mới phải... Cuộc đời vốn dĩ lập đi lập lại những định luật. Ban đêm thì có thể vì việc thêm vào cái lồng lửa để có được ánh sáng. Việc đẩy lùi tuyết lạnh không vì sự tham dự của gió lạnh mà hóa thành ấm áp.

Bởi vì chỉ có thể cùng người ta đi chỉ một đoạn đường, nên bạn cũng cần học cách từ bỏ. Cha mẹ chỉ có thể vỗ về nuôi nấng bạn trưởng thành, nhưng không nên kỳ vọng cha mẹ là cây gậy vĩnh viễn để có thể chống đỡ toàn bộ cuộc đời bạn. Con cái cũng chỉ cùng liên quan huyết nhục với bạn chứ không phải là vật  phẩm phụ thuộc của bạn. Bạn cần phải biết tôn trọng sự lựa chọn cuộc đời của chúng. Vợ con vì bạn mà cung phụng, nhưng sinh mệnh của cô không phải là vật phẩm thế chấp, nên dành cho cô những khoảng không gian thoáng đãng cần thiết. Bằng hữu có thể cho bạn sự ấm áp, nhưng loại ấm nồng này là loại tình cảm mở, bạn không thể cưỡng hành độc chiếm tình hữu nghị của người khác...

Bạn chỉ là người khách qua đường trong cuộc đời của người khác, chỉ có thể cùng người khác đi cũng chỉ một đoạn đường đời. Điều đó chính là tính hữu hạn mà bạn cho được người khác, vậy thì làm sao có thể mong cầu người khác cho đi sự vô hạn được?”

Mười năm, hai mươi năm hay một trăm năm của một đời người, cũng chỉ là một đoạn đường. Chúng ta chỉ có thể có duyên cùng đi với nhau chỉ một đoạn nào đó thôi, đừng nhầm lẫn cố chấp, sở hữu. Khoảnh khắc hiếm hoi nào còn duyên, có được, chúng ta nên quan tâm, cho ra hơn là nghĩ người khác phải tuân thủ theo kiểu của mình. Như thế, sẽ không bị nhận hiểu sai lầm, biết tôn trọng và giúp đỡ người khác, đưa đến một cuộc sống tích cực, vui tươi, không làm khổ mình và người.

 


 

8/ ĐỪNG GIẾT BỚT CUỘC ĐỜI MÌNH.

Cuộc sống của một đời người đa số phải đi làm việc hết tám giờ đồng hồ trong một ngày đêm. Khi phải đi làm kiếm sống, chúng ta thường có tâm niệm vì kế mưu sinh, vật lộn với cuộc sống, đi làm công tác để kiếm tiền nên coi việc làm như là một cực hình đè nặng lên đôi vai, không có gì sung sướng cả. Sáng đến công sở làm việc và trông chờ chiều hết giờ cho rồi để về nhà đoàn tụ gia đình, đi phố mua sắm… Thấy công việc là một điều bất đắc dĩ phải làm chứ không có gì thích thú, trông chờ hết giờ làm việc cho rồi, tức là chúng ta đã giết chết tám tiếng đồng hồ, chúng ta không được sống trong khoảng một phần ba thời gian của ngày đó. Cho đến cuối đời cộng lại thì quý vị đã đánh mất đi một phần ba sự sống, chỉ sống được hai phần ba của cuộc đời, có lãng phí không?

Có nôn nóng vội vàng hay không thì cũng phải hết thời gian làm việc mới được ra về. Có trông chờ cho hết thời gian hay không thì đồng hồ vẫn cứ trôi đều chứ nó không chạy nhanh hơn như ý mình được. Có khi vì sự trông chờ khiến chúng ta cảm thấy thời giờ trôi chậm và dài hơn. Thay vì trông chờ cho hết giờ thì quý vị thử tìm lấy niềm vui ngay chỗ đang làm việc. Là một Bác sĩ chỉ cần thấy rằng, là con người ai cũng sẽ có lúc phải bệnh. Mình được may mắn không bệnh, có khả năng, có điều kiện chữa trị cho người bệnh thì sung sướng hơn là phải nằm bệnh rồi. Biết rằng, người bệnh bao giờ cũng đau đớn, nhọc nhằn, khổ sở. Nếu mình bị bệnh thì cũng phải chịu những thứ đau đớn giống hệt như mọi người thôi… Chúng ta đặt mình vào trạng thái của người khác để cảm thông thì không những trị được căn bệnh cho họ mà còn trị luôn cả tâm lý bệnh cho mọi người, khiến họ yên tâm, không có cảm giác bệnh để điều trị, bệnh sẽ mau lành. Được như vậy là chúng ta đã làm việc với một tinh thần cởi mở, nhẹ nhàng, rất vui. Tương tự, công việc nào quý vị cũng biết tìm niềm vui như vậy thì chúng ta có được niềm vui ngay chỗ mình đang sống, đang làm. Mình vui, mọi người được vui, cuộc sống trở nên ý vị, thích thú biết mấy! Bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ công việc gì mình cũng được vui, luôn luôn được vui. Vậy là một ngày mình được vui, được sống trọn vẹn. Cứ như thế suốt cuộc đời mình, quý vị đã sống có ý nghĩa trọn vẹn, không lúc nào bị giết chết cả.

Nếu thấy công việc là một cực hình, nôn nóng mong về để thoát ra khỏi công ty thì trong thời gian ở đó rất dễ bực bội. Hễ ai đụng tới là nẩy lửa liền. Nếu giận dữ hơn người khác thì bị người đó oán thù, mình cũng khó được yên. Nếu sân mà không hơn được người thì bực bội, chán nản. Sống không an ổn, lúc buồn bực, chán nản, sân si, khoảnh khắc ấy bị đốt cháy giết chết đời mình, đó là đang sống mà không được sống trọn vẹn, là tự mình giết chết chính mình một cách đáng thương. Nếu biết tìm niềm vui ngay trên công việc thì lòng đầy hoan hỷ, thích quan tâm giúp đỡ người khác, chan hòa, cởi mở, vui vẻ, ai cũng cảm mến. Phút giây an vui là phút giây được sống. Áp dụng sống được như vậy là chúng ta được sống trọn vẹn cả cuộc đời mình.

 


 

III/ BẰNG CÁCH NÀO?

 


 

1/ LẶNG TÂM, TỈNH SÁNG.

Con người ta ai cũng thích những điều tốt đẹp nhất đến với mình, ai cũng khôn ngoan chứ không ai là ngu dại cả. Nhưng vì không chiến thắng được mình, không làm chủ bản thân cho nên bị nhiều thứ chi phối, khiến mình trở nên dỡ tệ, chưa thể đạt được những gì mong muốn, những gì tốt đẹp, cao thượng trong đời một cách trọn vẹn. Muốn đạt được những điều tốt đẹp trên, chúng ta cần phải có vốn liếng của tâm mình, phải có năng lực làm chủ mình. Muốn thế, không gì hơn là phải trải qua thời gian thực tập chứ không phải hiểu suông là được.

Niệm tưởng sẽ làm cho tâm mình căng thẳng, trí mỏi và mờ tối, trì trệ, đưa đến lắm điều phiền muộn, thất bại, rối ren. Muốn tâm mình mạnh mẽ, trí lực vững mạnh sáng suốt thì chúng ta không theo niệm tưởng lăng xăng trong đầu mình nữa. Có nhiều điều không cần, nhưng do chúng ta không có thái độ dứt khoát cho nên nó cứ vẩn vơ, lảm nhảm trong đầu mãi làm chúng ta rối. “Nhất ba tài động vạn ba tùy,” một làn sóng vừa dấy động, muôn ngàn lượn sóng khác dao động theo. Chúng ta cứ để cho tâm mình máy động mãi thì nó sẽ trở thành sức mạnh dao động khuynh loát khiến mình mất tự chủ, chán mỏi, mê mờ đưa đến sai lầm, thất bại, khổ đau. Biết nó là nguyên nhân sâu xa khiến cho mình yếu rồi gây ra đau khổ thì chúng ta nên mạnh mẽ dứt khoát với nó.

Khi muốn sắp xếp công việc gì đó thì ngồi ngay ngắn như thế hổ tựa sơn, tỉnh lại, lấy giấy viết liệt kê ra, bỏ vào túi, không suy nghĩ vẩn vơ nữa, theo đó mà làm. Ngày xưa lên xe đi làm thì vội vàng, nghĩ ngợi trăm thứ, không biết mình đang đi, đó là chúng ta đã giết chết mình ngay lúc ấy. Bây giờ cũng đi xe, nhưng lên xe tỉnh trở lại rồi đi. Cũng là cảnh vật thường ngày, nhưng lúc này tâm mình trong lặng, quý vị sẽ phát hiện ra một sự bàng bạc, trong sáng vô ngần. Lên bàn làm việc, trước kia lăng xăng sắp xếp đủ thứ mà quên mình, đó là chúng ta đang sống mà bị chết. Giờ ngồi vào ngay ngắn, tỉnh lại rồi làm, tâm mình an tĩnh, mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng, công việc hiệu quả hơn. Tương tự, khi nói tỉnh lại rồi nói, ra chợ tỉnh lại rồi mua đồ, vào bếp tĩnh lặng và làm, ăn cơm tĩnh lặng và bình thường mà ăn… Tất cả mọi hành động đều luôn tỉnh lại, mất chỉ nửa giây thôi, nhưng nếu thực hành liên tục như thế quý vị sẽ cảm nhận được kết quả rất nhiều.

Buổi tối trước khi đi ngủ hoặc buổi sáng trước khi thức dậy, nếu chuyên nghiệp một tí thì quý vị có thể thực tập tọa thiền trong một thời gian có thể cho phép. Việc này sẽ giúp cho mình có được trí lực mạnh mẽ một cách nhanh chóng hơn. Nếu điều kiện chưa cho phép hoặc chưa sẵn sàng thực tập thiền, quý vị cũng có thể đi dạo quanh lặng lẽ, hoặc nằm xuống buông xuôi, thân không máy động, tâm không nghĩ gì, chỉ là thở nhẹ, buông thỏng một lúc rồi ngủ, rồi đi làm. Đó cũng là một cách để nội tâm mình tĩnh lặng được mạnh mẽ hơn. Một thời gian sau, quý vị cảm thấy rất lạc an, thích thú, hôm nào không làm thì giống như buổi sáng đó chưa uống cà-phê, quý vị bắt đầu cảm nhận được nội tâm thay đổi. Lòng mình thơ thới, tâm như mở ra thoáng rộng hơn, lúc nào cũng có niềm vui nhè nhẹ sâu lắng trong lòng. Nhìn mọi việc đơn giản, nhẹ nhàng trong tầm tay, việc nào mình cũng có thể làm được, không có cảm giác ngại khó khổ. Gặp người hành động không được tốt, thay vì ngày xưa nổi nóng, bực bội, có thể quát mắng… bây giờ mình dễ cảm thông và thương họ nhiều hơn. Từ nội tâm an, trí tuệ sáng, sức định tĩnh cao sẽ khiến cho đời sống, sinh hoạt, cách hành xử với nhau cho đến khâu tổ chức, xử lý công việc… tất cả sẽ được chuyển mình đổi thay theo chiều hướng tốt và đưa đến thành đạt. Như vậy có vui hơn không?

Nên xem việc thực tập này như là một cách sống chứ không là một trách nhiệm nặng nề bắt buộc phải làm. Ban đầu chưa quen thì thấy hơi khó thực tập, bởi mình thường hay quên hơn là nhớ, nhưng một thời gian ngắn sau sẽ quen dần và thấy dễ hơn. Nếu nhận thức được giá trị lâu dài của nó là cần thiết cho sự sống thì quý vị thực hành sẽ dễ dàng và nhẹ nhàng hơn. Đừng đặt chữ tu ra đây làm cho vấn đề trở nên trầm trọng nặng nề quá. Chỉ biết rằng, đây cũng là một phong cách sống, phong cách này mang lại trí tuệ, nghị lực, phước đức, đưa đến sự thành công trong đời. Chúng ta muốn mọi thứ trong đời đều được thành đạt đến đỉnh cao của nó thì cần phải tập sống theo phong cách đó. Thế thôi. Bao giờ quý vị thích thú để thực hành mọi lúc mọi nơi như đói được ăn, như khát được uống thì quý vị sẽ cảm nhận được kết quả rõ rệt ngay nội tâm mình, cuộc sống của mình sẽ có những chuyển biến tuyệt vời khó nói hết.

 


 

2/ KHÉO VẬN DỤNG NHƯ MỘT CHIẾC MÁY TÍNH.

Có lẽ hiện nay quý vị trẻ ai cũng biết sử dụng máy tính (computer). Khi phải đóng mở nhiều trình sử dụng, muốn cho máy mạnh, chúng ta thường kích phải trên màn hình chính và nhấn lệnh Refresh (trở lại trạng thái ban đầu, làm tỉnh lại, làm nhớ lại trạng thái ban đầu chưa từng làm gì cho máy tính được mạnh hơn). Tương tự, trên mọi công việc, chúng ta luôn luôn ở trạng thái Refresh, tỉnh trở lại rồi làm thì tinh thần và trí tuệ mình sẽ được vững chãi và sáng suốt hơn.

Khi cài đặt một phần mềm gì đó bị lỗi, nếu chúng ta cứ xóa rồi cài lại mãi thì máy tự nó nhớ và đi theo lối mòn lỗi lầm đó mãi, không cài thành công được. Nếu xóa xong rồi tắt máy, hai tiếng đồng hồ sau cho ram đã quên, chúng ta khởi động máy lên cài đặt lại thì không bị lối mòn lỗi cũ, cài đặt thành công. Cũng vậy, khi một tình huống hay công việc gì đang căng thẳng, nếu chúng ta tiếp tục cố làm cho nó căng lên thì chỉ bị nổ tung, hư hết mọi việc chứ không giải quyết thành tựu được điều gì cả. Lúc đó, tắt máy đi. Tức là quý vị nên cố giữ im lặng, chan hòa, nghe vừa phải, thấy đúng lúc thì quay đi tìm nơi thanh vắng để điều chỉnh tâm mình lại. Có thể chậm hơn một chút, nhưng khi bình tâm rồi ra giải quyết thì mọi việc được thành tựu trọn vẹn, không bị thương tổn, mọi người được vui vẻ hơn.

Khi cài đặt, chép và xóa dữ liệu nhiều ngày, ổ cứng sẽ bị phân vùng rời rạc, máy sẽ chạy nặng nề ì à ì ạch. Chúng ta cần chạy chương trình sắp xếp các phân vùng lại thì máy sẽ chạy mạnh và nhanh hơn. Tương tự, trong công việc, khi nào đó có thể, kể cả lúc đang thuyết trình, chúng ta tranh thủ lấy lại định lực khoảng một vài phút gì đó, đầu óc mình nó sẽ tự sắp xếp các phân vùng lan man lại, cảm thấy tinh thần vững mạnh, trí tuệ sáng suốt và công việc được thông suốt, suông sẻ hơn.

Nếu luôn luôn vận dụng Refresh (tỉnh trở lại), khéo biết tắt máy đúng lúc, khéo tranh thủ sắp xếp lại các phân vùng của ổ cứng cho máy tính được mạnh và chạy nhẹ nhàng hơn, nhanh hơn, quý vị sẽ gặt hái được kết quả tốt hơn rồi đó.

 


 

3/ XÁC ĐỊNH, TÔN TRỌNG GIÁ TRỊ VỮNG CHẮC, LÂU DÀI.

Có người hỏi quý thầy, những điều thầy nói tụi con cảm nhận được. Nhưng trên thực tế, bạn trẻ hiện nay có quan niệm hơi trái chiều. Thí dụ hiện nay gia đình con không giàu bằng những đại gia. Quý vị ấy mời con đi chơi tại một nơi rất sang trọng. Nếu không đi thì có lẽ không bao giờ con được đến và biết được cảm giác nơi đó vui như thế nào. Tuy là tạm thời, nhưng thà đến đó để biết được niềm vui khác lạ hơn là ở nhà con sẽ không bao giờ biết được. Thầy góp ý giúp con.

Quý thầy nói, phần đông quý vị còn trẻ tuổi khi nghe ai nói làm gì đó được vui thì liền theo, nhưng có bao giờ chúng ta tự đặt lại cho mình câu hỏi: “Vui đó là vui theo cái gì, có giá trị xứng đáng không?” Khi mình nghèo hơn, mình muốn đi theo họ để được niềm vui đó chứ tự mình không bao giờ có được, người ta cũng sẽ biết được điều đó cho nên trong tâm họ chỉ xem mình là người ăn bám tầm thường thôi. Đã là ăn bám, lợi dụng thì người ta đâu có tôn trọng mình? Khi vui, hứng chí thì ban cho một chuyến đi chơi, khi buồn, không thích nữa thì họ đá văng ra một bên không hề thương tiếc. Bởi vì họ chẳng nể nang, tôn trọng hay cần gì ở mình cả. Niềm vui mà để người ta xem thường mình, coi rẻ mình, hất bỏ mình ngày nào không biết, như vậy mà cho là vui được sao? Thời của ông bà mình xưa kia, những người đói khát đi ăn xin, không nhận của những người vẫy tay lại mà cho, tức là cho không đúng cách. Thà nhịn đói mà chết chứ không nhận của người cho mà không tôn trọng họ. Chúng ta bây giờ chưa đến nổi đói gần chết mà lại đi nhận của cho theo kiểu đó thì có phải đã làm ô nhục bản thân và gia đình cha mẹ mình hay không? Không thấy bị xúc phạm hay sao mà cho là vui sướng, cao thượng?

Thêm nữa, ví dụ trong gia đình mình có nuôi người giúp việc. Họ đi đúng giờ, làm việc tươm tất, chu đáo, vui vẻ, chan hòa, thân mật, đáng tin cậy. Lỡ có la rầy điều gì oan ức, họ vẫn ngoan ngoãn sẵn sàng nhận lỗi, không có chút khó chịu hay cãi lời. Sống lâu ngày với gia đình mình như vậy, quý vị có thương mến và thầm cảm phục con người đó không? Rất cảm mến. Khi đến công sở làm việc, không may gặp một người sếp thô lỗ, ăn nói thiếu văn hóa, nóng nảy cục cằn, phán quyết tầm bậy, bạ đâu quát mắng đó một cách vô lối…, qúy vị có nể phục người sếp ấy không? Vì đồng tiền, vì cuộc sống mà mình phải chịu đựng để làm việc thôi chứ không có chút cảm tình hay nể nang gì cả. Một người giúp việc mà sống đúng thì chúng ta vẫn cảm phục, một vị sếp mà thô lỗ thì cũng bị nhân viên xem thường. Như vậy, làm nên phẩm chất của một con người, không phải ở đồng tiền hay địa vị mà chính là ngay cách sống của con người đó. Đã là cách sống thì đâu cần phải nhiều tiền mới có được!

Khi còn đi học, nếu quý vị nào thích thể hiện cá tính, sống theo trào lưu, ai bảo gì thì ăn chơi theo kiểu đó, xem ra anh hùng đấy! Nhưng mất căn bản, mãi đến 20 năm sau sự nghiệp cũng không ra gì, cuộc sống thiếu trước hụt sau, nói không ai nghe cả, lúc này có anh hùng với ai được nữa không? Ngược lại, nếu quý vị thấy rõ niềm vui của tuổi trẻ là nhất thời, con nít, không cần thiết. Bằng với điều kiện trong gia đình mình có được, chúng ta nhìn về một tương lai xa rộng hơn để nổ lực học hành. Đừng nên vì những niềm vui nhất thời làm ảnh hưởng, đánh mất sự nghiệp của mình sau này. Quý vị nên nhìn về tương lai 20 năm sau để lo học hỏi cho thật căn bản, hy sinh niềm vui con nít hiện tại. Ai nói mình là con gái, cù lần, nguyễn thị gì gì đó cũng được, cứ nuôi chí lặng lẽ lo học hành cho có căn bản. 20 năm sau công thành danh toại, cuộc sống sung túc, nói ra điều gì mọi người cũng nghe theo, có điều kiện để giúp ích người khác nữa, như vậy sẽ vui hơn chứ! Có thể điều kiện không giàu, nhưng chúng ta ra trường có trình độ giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín, có năng lực, lúc này mấy người đại gia sẽ rất cần chúng ta, họ phải tìm đến để mời mình đi làm việc cho họ. Quý vị nhìn lại ở thế gian, thiếu gì những người có của cải đầy nhà mà tìm không ra người đáng tin cậy và có trình độ, có năng lực để họ giao trách nhiệm quản lý? Đạo đức đáng tin cậy, năng lực có thừa, trình độ rất giỏi thì họ sẽ cần mình, tôn trọng mình chứ không phải là thương hại hay xem thường mình như trước kia nữa. Như vậy không vui thích hơn hay sao?

Nếu biết trông xa hiểu rộng, biết tôn trọng nhân phẩm của mình, tôn trọng danh dự gia đình cha mẹ, hy sinh niềm vui trẻ con nhất thời hiện tại để lập chí lâu dài, sau này mới có phẩm chất, có trình độ, có năng lực, từ đó mới có được niềm vui chắc thực và lâu bền hơn được. Đó cũng còn là niềm vui bên ngoài, nhưng nếu chín chắn xác định cho thật kỹ càng thì chúng ta cũng chọn được đâu là niềm vui xứng đáng, ý nghĩa. Huống nữa là niềm vui bất tận, thanh thoát nhẹ nhàng, ngập tràn từ một tâm thể giác sáng không động, có thể đem niềm vui huyễn ảo nhất thời mà so sánh đến được hay sao? Có vào núi mới cảm nhận được núi rừng thanh vắng, vượn có hú vang, chim có gọi nhau ríu rít cũng trong ngần, không làm sao phá nổi vẻ thanh u tịch mịch. Có xuống biển mới thấy hết biển trời bao la, sóng có vỗ, nhạn có tung cánh vờn bay, cũng chỉ điểm tô, xé sao được thênh không vời vợi. Có ngồi lại thực hành, tự mình mới cảm nhận hết nguồn lạc an thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng ngập tràn bất tận ấy. Niềm vui này không có gì đánh đổi được. Nó không bị vô thường sanh diệt chi phối, và theo ta đi suốt mọi nẻo đường.

 


 

IV/ KẾT LUẬN.

Khéo lóng lặng tâm mình định tĩnh, trí tuệ sáng suốt. Biết trau dồi năng lực lớn mạnh, có khả năng thích nghi với mọi hoàn cảnh một cách tốt nhất, không có gì làm cho mình cảm thấy khó chịu và không thể. Biết thoáng rộng tâm hồn, quan tâm đến cảm xúc người khác và làm những công việc tốt trong tầm tay, phước đức của mình sẽ được tăng trưởng. Khi tâm an định, trí tuệ sáng suốt, năng lực vững mạnh, tùy thời thích nghi, cộng thêm phước đức rộng lớn mà không đi đến thành đạt, chưa thấy điều ấy bao giờ!

Dụng tâm tu thiền

Thầy Tâm Hạnh.

LỜI GIỚI THIỆU

Dụng Tâm Tu Thiền là tập sách đầu tay của thầy Tâm Hạnh, ra đời trong điều kiện tương đối khiêm nhường của nó. Dù vậy, tác phẩm vẫn xứng đáng, biểu hiện rõ nét giai đoạn khổ công ban đầu của tác giả. Một giai đoạn hầu hết hành giả nào cũng phải nếm qua. Khó khăn nhất là lúc hạ thủ công phu. Tác giả đã trải nghiệm quá trình thăm dò, tìm kiếm và đang đứng trước lối vào.

Xem tiếp...

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

503752
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
2263
2002
18264
467745
49851
79436
503752