
TT.Thích Tâm Hạnh
Nếu bóng đêm nơi đường hiểm là sự tăm tối mịt mùng, ẩn náu nhiều hiểm nguy rình rập, luôn khiến con người ta kinh sợ – thì bóng tối vô minh triền miên, bao trùm hiểm đạo tử sanh, hãi hùng và kinh hoàng khôn tả xiết. Chúng sanh mông muội, phải lặn hụp trong luân hồi sanh tử, chịu các khổ đau bởi những hiểm họa khó lường như thế. Xóa sạch đêm đen, chỉ có mở đèn; dứt hết vô minh, phải biết thắp lên ngọn đuốc trí tuệ. Do vậy, muốn hết mê lầm, thoát khỏi thống khổ, tự mình phải biết thắp sáng.
1. THẮP SÁNG GÌ?
Thường nghe thế gian nói, thắp sáng niềm tin, thắp sáng hy vọng hoặc là thắp sáng ước mơ. Nhưng tin vào điều gì? Hy vọng được gì? Và ước mơ những gì? Nói chung, tất cả để được gì? – Để được điều mình cần thắp sáng. Đó là gì?
Việc mà người con Phật chúng ta cần phải thắp sáng là đèn tâm (chân tâm). Từ đó mới hy vọng thắp sáng được ngọn đuốc Chánh pháp, ngọn đèn Thiền tông. Và tâm nguyện lớn lao này được tiếp sáng lên từ đèn tâm - chân tâm ấy.
Ngộ tâm tánh thì suốt thông, khế hợp tâm thể Phật Tổ, là tâm ấn tâm; là nghĩa đích thực của việc Truyền đăng tục diệm. Không ngộ bản tâm thì không biết lấy gì để mồi đèn nối lửa. Do vậy, muốn kế tục Tổ đăng, phải tỏ sáng đèn tâm này.
Một khi đèn tâm đã được sáng lên (tỏ sáng bản tâm), tức đã nhận lại cội nguồn giác ngộ, diệu lực này cho hành giả tự tại, vượt thoát mọi đau khổ. Đây là bản hoài chư Phật, mong muốn chúng sanh được Giác ngộ, giải thoát – Cũng là mong mỏi của chư vị Tổ sư, sao cho chúng ta tự tại, tiêu sái – Và cũng chính là bản nguyện người tu hành, mong muốn dứt khổ, đạt được an lạc diệu thường. Cho đến việc thành tựu Phật đạo, cũng phải bắt đầu từ việc nhận lại Chân tâm không sanh diệt, chứ không thể từ bất cứ gì khác. Mới thấy, tất cả thảy đều từ đèn tâm – chân tâm. Do đó, là người thực sự cầu đạo Vô thượng Bồ-đề, cần phải thắp sáng đèn tâm, tỏ sáng chân tâm.
2. THẮP SÁNG ĐÈN TÂM
Sách Góp Nhặt Cát Đá, giai thoại Giáo Lý Thượng Thừa kể lại:
Có anh chàng khiếm thị sang nhà bạn chơi, đến tối từ biệt ra về. Người bạn thắp một ngọn đèn trao cho anh soi đường, anh bảo: “Tôi không thấy đường thì trời sáng cũng như tối, thắp đèn làm gì?”. Anh bạn bảo: “Tuy không thấy gì, nhưng nhờ ánh đèn mà người khác nhìn thấy và tránh, khỏi đụng vào anh”. Nghe chí phải, anh cầm lấy đèn và từ biệt. Đi được một quảng đường, bất ngờ có người đụng trúng, anh bạn khiếm thị bảo: “Không thấy cây đèn hay sao mà đụng vào nhau?”. Người đi đường bảo: “Anh bạn ơi, cây đèn của anh đã tắt từ lâu rồi!”.
Câu chuyện xoay quanh ngọn đèn đang cháy sáng hay đã lụn tắt. Cây đèn ở đây ngụ ý chỉ cho đèn tâm (chân tâm). Đèn tâm đã được thắp sáng, những ai trông thấy nghi dung cũng đều hoan hỷ qua thần thái rạng lên, cảm được sự mát lành, hoan hỷ và thanh thoát, không thể nào sanh tâm gì khác hơn là sự thánh thiện, cao thượng và lòng quí kính về một con người đặc biệt như thế. Đó là ý nghĩa thắp sáng lên, người khác sẽ không đụng. Nếu có đèn mà để cho tắt ngúm, dù người khác không đụng mình thì mình cũng đi kiếm chuyện đụng người ta.
Tinh thần Tối Thượng Thừa trong giai thoại trên là gì? Là cây đèn tâm đã sẵn, chỉ cần thắp sáng lên chứ không thêm gì vào hoặc làm gì thêm trong ấy. Khẳng định, ai ai cũng sẵn đủ bản tâm ấy; tu hành chỉ là khéo nhận lại tâm này, không từ bên ngoài mà được. Và hành giả hạ thủ, duy chỉ một việc ngộ tâm, ngoài ra không việc khác; đó là Tối Thượng Thừa.
Muốn tiến đến huyền đạo, cần thấy biết đúng đắn như thế. Nếu chưa đốn ngộ, phải khéo dụng công. Như lời đức Thế tôn dạy, mỗi hành giả phải tự thắp lên ngọn đèn của mình từ Chánh pháp. Học hiểu suốt thông, có kiến giải chân chánh. Thân cận bậc Thiện tri thức, tùy thời thỉnh thị quý Ngài hướng tiến, kích phát, chứng minh (ấn chứng), liền đó thừa đương, tự khẳng.
Phải tự tin mình làm được, quyết chí tu cho bằng được. Hằng ngày tâm tâm niệm niệm chỉ quyết sáng tâm này, không còn việc khác. Khéo dụng tâm cho khế hợp thể tánh vô sanh, khi công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bùng vỡ, đèn tâm rực sáng.
3. THẮP SÁNG ĐÈN THIỀN
Ở trên vừa đề cập Thắp sáng đèn Tâm, đến đây nói Thắp sáng đèn Thiền. Vậy thì hai việc này có gì khác biệt?
v Về tu học
Thắp sáng đèn tâm: Thấy có đèn tâm, có lửa Chánh pháp để thắp lên, đây là thời kỳ còn trong quá trình tu học, cầu tiến.
Thắp sáng đèn thiền: Không còn thấy biết bên ngoài, mà tức thời, thẳng tắt trực nhận bản tâm chính mình. Không còn thấy đèn tâm hoặc lửa được thắp lên. Được như vậy rồi, tùy thời hiện đèn, hiện lửa; hoặc có khi thổi tắt, dẹp hết, cho đèn Thiền bừng sáng rực lên. Đây là thời kỳ công phu đã thuần thục, đắc lực, được Thiền sư khai thị, hành giả thẳng đó bừng ngộ.
v Về dụng công
Thắp sáng đèn tâm: Học nhơn vẫn có thể dùng tâm hiểu biết để tu hành. Do đó, có thể bắt đầu bằng tâm còn động, sau nhờ khéo dụng công mới thể nhận chân tâm. Như vậy, về tâm thì còn có thể là một trong hai: Vọng hoặc Chân. Về dụng công thì còn có chỗ để hạ thủ, có pháp để nương tựa.
Thắp sáng đèn thiền: Đèn thiền cũng chính là đèn tâm, nhưng khi đề cập đến việc thắp sáng đèn Thiền thì khẳng định hẳn là nhận thẳng chân tâm. Tức là ở trình độ này thì khẳng định rõ ràng, rạch ròi và thẳng tắt:
Tâm là chân tâm, là bản tâm, bản tánh chính mình; không đề cập đến tâm khác.
Pháp thì không lập một pháp, nhưng hay làm thành cho học nhơn, cho nên “Không pháp, cũng là một pháp”.
Hướng dẫn, chỉ là khai thị, chỉ thẳng trong chớp nhoáng, chứ không đề cập đến việc hướng dẫn từ từ. Chư vị Thiền sư khéo chỉ bày, hoặc lưu xuất đại cơ dụng, thình lình chặn đứng ý thức, không có không gian và thời gian cho tình thức kịp chen vào, cho hành giả bất ngờ ngộ nhập.
Vậy nên, thắp sáng đèn Thiền là nhấn mạnh đến nanh vuốt hướng thượng thẳng tắt của Thiền tông, chứ không bàn đến giáo nghĩa hay sự hiểu biết.
3.1. Đưa lên để thắp sáng
Có đưa lửa lên để thắp sáng. Đây là cơ dụng “Ban cho” để hành giả khéo nhận lại, không phải “Đoạt lấy” (chặn đứng tất cả).
Tổ Bá Trượng sai Quy Sơn đến trong lò tìm lửa đem lại, Quy Sơn thưa, tro đã tàn, không có lửa. Tổ đến vạch sâu, tìm được chút lửa, đưa lên hỏi Quy Sơn: “Ngươi bảo không có, vậy đây là gì?” Ngài Quy Sơn liền đó bừng tỉnh. Từ đây bắt đầu rẻ lối chia đường giữa mê và giác, đã có lối vào, là nền tảng cho sau này đại ngộ.
Đốm lửa trong tay Thiền sư bất ngờ đưa lên, khiến cho học nhơn toàn thể thân tâm bỗng dưng ngưng bặt, bất ngờ hoát toang, tâm thể hiện bày, không còn lầm biết bên ngoài nữa. Có vị thẳng đó đại ngộ; có vị liền biết lối vào, tiếp tục bảo nhậm, rồi cũng đại ngộ. Đã ngộ thì toàn thể thấy biết thảy đều tánh này, nơi nơi tỏ rạng, sáng ngời. Cho thấy, một đốm lửa tàn, nhưng lại thắp sáng đại thiên sa giới.
Trong cuộc sống, trên tất cả sinh hoạt hoặc thời khóa tu tập, hành giả không tìm vật để thấy biết, không thấy biết trên vật, cũng không phải lờ qua hay mặc kệ gì; chỉ là một tâm sáng biết, suốt thông, không dấu vết, sẽ có lúc trả lại tánh này ngoài mong đợi.
3.2. Thổi tắt để thắp sáng
Thổi tắt lửa để thắp sáng đèn, đây là đại dụng “Đoạt lấy” (thình lình chặn đứng tất cả), khiến học nhơn không còn có chỗ để hiểu, bất ngờ trực ngộ, đối lại với cơ dụng “Ban cho” ở trên.
Tại Long Đàm, ngài Đức Sơn đứng hầu Thầy mình, đến tối xin về liêu. Thiền sư Sùng Tín trao cho cây đèn, Đức Sơn vừa tiếp lấy, liền đó Thiền sư Sùng Tín vụt thổi tắt, ngài Đức Sơn bừng ngộ.
Thiền sư xuất đại cơ dụng, bất ngờ thổi tắt, toàn thể thân tâm học nhơn bỗng dưng rỗng thênh, hoát toang thông thống, tất cả hiện bày.
Nếu hằng ngày toàn không nương tựa, bặt dứt tâm trước, tất cả toàn không (rỗng rang), hành giả sẽ có lúc thình lình bất chợt bừng sáng.
3.3. Không đèn – Không lửa
Khi dẹp sạch tất cả, không đèn, không lửa thì thế nào?
Sáng rực.
Bàn luận, nói năng hay tìm hiểu, vẫn chưa quên tâm trước. Ngay đây, là đèn, là lửa đều quên hết đi; hãy bặt dứt đi cả tâm và pháp; vắng bặt tướng trước của tâm; liền đó đèn tâm – đèn thiền bất chợt sáng ngời, không nơi nào bị che khuất hay thiếu vắng, chốn chốn sáng rỡ, không ngờ.
3.4. Soi chiếu khắp xa gần
Đến điền địa này, không phải tại cơ lặng yên mà linh thông, có đại cơ dụng và hay dùng được tất cả một cách tự tại, không ngăn ngại. Đèn thiền soi chiếu khắp gần xa, không nơi nào không đến, tùy thời soi rọi, thắp sáng cho mọi người. Thiền sư Tử Thuần từng nói lên lực dụng này:
Tịch quang trong bóng hiện toàn thân,
Sang khác thiên nhiên vượt hạng thường.
Con khó nhà giàu riêng đắc lực,
Đêm chia đèn lửa rọi xa gần.
3.5. Chỉ là bình thường
Bá Trượng đưa lửa, Qui Sơn ngộ; hoặc Sùng Tín đưa đèn rồi chợt thổi tắt, khai thị Đức Sơn, hay chư vị Thiện tri thức trong thiên hạ có vô vàn diệu thuật khác thì cũng chỉ là cơ dụng khai thị, cốt cho hành giả nhận lại bản tâm này. Là người lanh lợi, khéo nhận lại nơi mình, không nhằm trên biểu tượng của đèn và lửa, hoặc việc thắp sáng để tìm hiểu, bàn bạc. Khi nhận thẳng tột cùng bản tâm một cách trọn vẹn, viên mãn, sẽ hay ra, cuối cùng chỉ là: Bình thường, như cũ, sáng mãi không dứt. Đây là chỗ tột cùng của bậc tham huyền, không còn tướng trước hay năng lực cảm ngộ của buổi đầu. Thiền sư Triệu Châu nhấn mạnh: “Hết thảy chỉ như cũ. Các bậc Thánh từ trước, không có ai chẳng từ trong chỗ như cũ mà được.” Thiền sư Nam Tuyền nói: “Bình thường tâm thị đạo”. Các bậc tác gia trong thiên hạ là đại Thiền sư kiệt xuất tùng lâm, đều chỉ rõ và khẳng định sức sống “Như cũ – Bình thường – Sáng rỡ” tột cùng, rốt ráo và viên dung này.
Năm diệu dụng tạm lượt nêu trên, chính là sức tự tại, là đại cơ dụng của các bậc đại Thiện tri thức trong nhà thiền. Quý ngài tùy thời dẹp sạch hoặc dùng đến vô cùng linh hoạt; tùy vào từng căn cơ của người học để Đoạt hoặc Cho một cách thẳng tắt, như đá nháng điện chớp, để ngọn đèn Thiền học nhơn bất ngờ sáng rực.
4.KẾT LUẬN – MÃI THẮP SÁNG
Trọng tâm mà hành giả mong mỏi và cần phải thắp sáng là đèn tâm – chân tâm. Hoặc là trực ngộ; hoặc luôn giác sáng, thầm nhận lại; hằng như thế trên các hành hoạt, mọi lúc mọi nơi, sẽ có lúc viên thông.
Muốn vậy, hằng ngày phải thường thắp sáng niềm tin ngộ tâm: tin chắc rằng mình có Phật tánh và có quyền tu hành, bừng ngộ. Bên cạnh đó, phải thắp sáng hy vọng tỏ sáng bản tâm: Phật Tổ đã làm được và quý Ngài khẳng định ai cũng có khả năng đó thì không lý do gì mình lại không tự tin và hy vọng có lúc sẽ chạm đến. Đồng thời, phải hết sức thiết tha tham thấu tột nguồn tâm: như đói cần ăn, khát cần uống, đêm ngày luôn một lòng muốn sáng ra, nung nấu thấu suốt đến tột cùng viên mãn, không thôi dứt. Được như vậy, ngọn đèn tâm chính mình nhất định sẽ có lúc bất ngờ rực sáng; mới mong viên thành bản nguyện thắp sáng ngọn đuốc Chánh pháp, ngọn đèn Thiền tông, lợi mình, lợi người không cùng tận.
