
TT.Thích Tâm Hạnh
Tâm thức chúng sanh luôn xao động không lúc nào dừng nghỉ, chưa xong việc này lại nghĩ đến việc khác, tựa dường khỉ vượn chuyền cành, vừa buông nhánh nọ lại vin sang cành kia. Ý thức thì khó thuần phục, giống như con ngựa thường hay trở chứng, thuận thì ngoan ngoãn, vừa chạm tự ái liền nổi xung thiên, có khi tự mâu thuẫn không biết đâu mà lần. Tâm viên ý mã này thường khiến cho con người bất ổn, dẫn đến sai lầm, tạo các vọng nghiệp để phải trầm luân sanh tử luống chịu khổ đau. Hành giả tu Phật sở dĩ chịu nhiều vất vả, lắm nhọc nhằn cũng vì sự nổi loạn và ngông cuồng của chúng. Đức Phật dạy, đây là căn nguyên dẫn đầu các pháp. Chư vị Tổ sư, các bậc Thiện tri thức đều khuyên người tu hành phải khéo hàng phục, chăn dắt tâm ý.
Khóa lễ Sám hối sáu căn hằng đêm tại các Thiền viện Thiền phái Trúc Lâm hiện nay, trong 12 nguyện có câu: “Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót, Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên”.Tức là mong mỏi tâm vượn không còn nhảy nhót, chuyền cành, ý ngựa không còn cần đến cương yên.
Dây cương cụ thể đối với người tu hành chính là đời sống có kỷ luật, khép mình trong giới luật và luôn luôn tỉnh sáng, giác sát kiểm điểm tâm mình.
Kỷ luật không phải là sự khắt khe, mà là sống đúng với những gì mình mong muốn đã được xác định từ trước, không bởi ai hay bất kỳ sức mạnh nào bắt buộc phải tuân theo. Điển hình, đến với đạo để học Phật là do bản thân mong muốn sau khi đã hiểu biết. Người xuất gia là do cảm nhận được giá trị chánh pháp và bản tâm thôi thúc đến độ không gì có thể cản bước được. Tất cả đã trải qua một quá trình tìm hiểu, nhận biết, trải nghiệm thực tế rồi đi đến quyết định. Và khi vào đạo, hành giả sống đúng với những gì tự thân đã chọn, đã xác quyết và tuân thủ việc tu hành một cách nghiêm túc với lòng đầy hân hoan khi được làm điều mình hằng mong nguyện. Đó là sống có kỷ luật.
Giới là những điều răn, như những hàng dậu ngăn ngừa các pháp ác gây nên hiểm họa cho chúng ta. Sống theo luật nghi khiến thân tâm được điều phục. Nhiều cá nhân được điều phục, thanh tịnh sẽ hợp thành một đoàn thể Tăng thanh tịnh, khiến từ lực ấy đã mạnh, lại càng mạnh hơn lên mỗi ngày (trưởng tịnh), thiết thực nối thạnh chánh pháp, lợi lạc quần sanh.
Như chú mục đồng chăn trâu, không cho phạm vào lúa mạ của người, hành giả thường xuyên kiểm điểm, tỉnh giác chăn tâm, không để phạm vào trần cảnh, cho tâm ý được thuần thục, mới có lúc tánh mình bừng sáng.
Ý ngựa nơi mỗi hành giả cần có tối thiểu những dây cương như thế để thuần phục sự cứng đầu và ngang ngạnh của con ngựa hay vốn thường có chứng.
Vậy thì dứt cương yên là đã tháo bỏ dây cương, hay vẫn còn đeo dây cương? Cả hai đều còn quan tâm đến cương yên, tức chưa dứt được. Ở đây, dứt cương yên, trọng tâm đề cập đến ý ngựa đã được thuần thục. Lúc này, có cương yên hay không cương yên, toàn không dính dáng. Một khi tâm đã thuần hòa rồi thì sống trong giới luật, khép mình trong quy củ nghiêm minh, cảm thấy an lạc, hoan hỷ và đầy ý vị.
Tham gia thời khóa tu hành một cách nghiêm túc bởi sợ thầy Trụ trì, tức còn lệ thuộc cương yên để khép mình. Khi chính tự thân có trí tuệ nhận ra rõ việc tu là cần thiết, tự mình muốn tu tập để được giác ngộ, sáng đạo thì vẫn sống trong giới luật, thanh quy và rất kỷ luật đối với thời khóa, nhưng không phải bị ràng buộc mà đổi lại, cảm thấy khinh an, phấn chấn, ngập tràn lạc an, tức đã thực sự dứt cương yên.
Còn là phàm phu thì trong ai cũng còn những dở tệ. Những tồn tại ấy chỉ khi tự thân nhận ra rồi phát tâm một cách mạnh mẽ và dứt khoát mới khắc phục và vươn lên được. Thầy Tổ chỉ nói cho biết, sách tấn trong chừng mực và kích phát trong nhân duyên của học trò đối với quý Ngài. Tất cả cho thấy đều có giới hạn của nó, không thể giúp được trọn vẹn trong nhân duyên và nghiệp tập riêng của mỗi người. Thực tế, sửa được hay không, phải từ nơi bản thân mỗi vị tự giác biết, muốn sửa đổi và đủ quyết chí.
Trong điều kiện tự nhiên, con rùa sẽ thò đầu, bung đuôi và duỗi bốn chân ra bò đi thoải mái. Gặp lúc phải cảnh giác, chú thu hết vào trong mai, ẩn núp. Tương tự, có khi do khép mình trong điều kiện nghiêm cẩn nên bản thân đang sống tốt mà chưa phát hiện ra những tồn tại sâu kín bên trong. Cho đến khi bước ra khỏi tầm quản lý của người lớn, khỏi môi trường có quy củ, những thứ ẩn náu mới có cơ hội trồi ra và chi phối mãnh liệt hơn, nguy hại khó lường. Những tập khí này nó nằm ở nơi không nơi chốn, bình thường tìm không thấy. Và chúng xuất hiện khi chúng ta khinh suất, mất cảnh giác, xem thường. Trong ngày, bất ngờ có những khoảng thời gian được tự do, không nằm trong thời khóa nào của đại chúng cả. Khi ấy, xem lại mình thích làm gì nhất, muốn sống như thế nào thì biết được sự thật ngủ ngầm bên trong. Ngay đó để nhận diện và điều phục, sẽ đưa cuộc đời mình đi đến tương lai xán lạn. Bởi ngay hiện tại, khi được tự do nhất mình vẫn miên mật, lấy sự tu tập và sống đạo làm niềm vui thì sau này bước ra khỏi sự chăm sóc của Thầy Tổ và đại chúng, tức được tự do, bản thân cũng sống như vậy, sống đúng với sở thích của mình vốn đã được đào luyện trong môi trường lý tưởng. Đây cũng là một cách để phát hiện và điều phục ý mã của người học.
Tóm lại, nếu thích luông tuồng, không cương yên, tức sống buông lung, phóng túng, thỏa mãn phàm tình thì chỉ sanh tình tệ. Thực tế, người sống không có kỷ luật để phấn đấu, sẽ không thành tựu được gì trong đời. Học nhơn sống đờiphóng dật, không thể nào thành tựu được đạo giác ngộ giải thoát.
Nhưng nếu không khéo, đôi khi thích khép mình lại bị hình tướng câu thúc, khiến dễ sanh bực bội hoặc kẹt trên tướng, không thể nào ngộ tánh.
Cuối cùng, thế nào mới phải?
Sống có quy chuẩn, nhưng tâm vô tướng, thênh thang, sẽ hợp đạo và tiến đạo.
Vua Trần Thái Tông nói: “Nếu chưa đạt được Phật tâm, Tổ ý, hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì, kinh nào tụng”[1].
Ngài khẳng định trọng tâm, tu học Phật cốt yếu tỏ sáng Phật tâm chính mình. Khi chưa đạt ngộ thì phải nghiêm chỉnh trì giới, đọc học Kinh Luận. Nhưng bằng tâm thái nào để hành trì? Phải bằng tâm vô tướng, bặt vết, không sanh diệt mà sáng ngời, mới khế tâm Phật ý Tổ, mới có lúc bừng ngộ tâm Phật nơi chính mình. Ngài nhấn mạnh, trì giới tụng kinh phải đạt suốt đích đến là đạt ngộ Phật tâm. Đến đó rồi thì “Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì, kinh nào tụng”.
Khi đã tỏ ngộ Phật tâm chính mình thì không còn lầm nhận trên hiện tướng bên ngoài của các Ngài, mà tỏ sáng bản tâm vốn đồng với tâm thể mười phương ba đời tất cả chư Phật, thông suốt tâm thể nhiều đời liệt vị Tổ sư. Hiện tại những vị chứng đạo và mãi về sau, bất kỳ ai tu hành đắc đạo đều về trong ấy, không sai khác. Vì không còn nhận trên hiện tướng bên ngoài như khi còn mê, cho nên nói ‘Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải’ thì ‘Giới gì trì, kinh nào tụng?’
Vì còn bàn về trì giới tức còn có khả năng phạm cho nên phải trì. Đã trở về trong bản tánh kia, như biển cả không chứa tử thi, tự tánh đó không thể nhiễm thì giới tự tròn đủ, chứ không phải không trì giới là buông lung, phạm giới.
“Kinh nào tụng” là có tụng kinh hay không?
Thấy có tụng và không tụng là chưa rời hai bên, còn chấp trên tướng, nên khi đi tụng kinh thì thấy có tu, rồi lúc xuống thì thấy hết tụng kinh, là nghỉ ngơi. Đã ngộ và sống bằng tâm tánh kia thì miệng vẫn tụng, tâm vẫn hành trì, không rời tự tánh, tức chuyển được kinh. Bản tâm thênh thang, sáng rỡ, không động, cũng không phải tịnh. Trong ấy, từng tiếng, từng chữ cùng vô lượng diệu nghĩa mỗi mỗi rành rành, rõ ràng mà sáng rỡ, trong trẻo; đan xen, nhưng vẫn vô tướng, không phân biệt, không thể nghĩ nghì. Khi hết thời kinh, ra thừa hành các công việc cũng vẫn một tâm ấy như lúc đang trì tụng kinh điển. Do đó, ngộ rồi thì tụng kinh và không tụng kinh giống nhau cho nên cứ thế mà tụng kinh, không cần thôi nghỉ. Đã là giống nhau thì đâu cần bàn đến tụng cùng không tụng? Kinh đâu có lỗi. Còn muốn nghỉ tụng kinh tức còn ngăn ngại, chưa tự tại, thì lại càng phải tụng kinh. Cho nên, giới gì trì, kinh nào tụng, mà thật ra là bản thân đã trì giới một cách chắc chắn, trọn vẹn và đồng thời cũng thường miên mật tụng kinh mà không hề thấy ngăn ngại gì. Đạt đến đây mới thông suốt tột cùng diệu lý “Dứt cương yên” mà vua Trần Thái Tông đã biên soạn, gửi gắm vào trong Khoa nghi lục thời sám hối.
Tết này bước sang năm Ngọ, hy vọng rằng ý ngựa nơi mình được thuần phục, ngoan ngoãn, cương yên không còn can hệ. Ngựa đã nhàn, vượn cũng ngủ, tất cả cùng về trong chân trời thênh thang bát ngát, thống khoái vô biên.
