Thứ Bảy 17/10/2026 -- 8/9/2026 (Âm lịch) -- 2570 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Bát Nhã Dạy Gì (6): Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi (Mục 1 - Câu hỏi căn bản )(2)

TT.Thích Tâm Hạnh 

MỤC 1 - CÂU HỎI CĂN BẢN

(tiếp theo)

Câu số 22: Vì sao “Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”?

 

 

Đáp:

-  Thành Phật là đạt đến viên mãn quả vị vô sanh.

-  Phải từ nhân vô sanh mới đạt đến quả vị vô sanh.

-  Mà thể ngộ Thực tướng Bát-nhã, là sống bằng nhân vô sanh ấy.

-  Sống thẳng bằng Tánh thể Bát-nhã, là chân thật tu hành, mới thành Phật.

Do đó, muốn thành Phật phải bắt đầu từ Bát-nhã, là vậy. Thiền sinh chúng ta đang ở trong môi trường học và tu Bát Nhã, nhưng lại bỏ đi nơi khác, đồng nghĩa là đi tìm cái khác Bát-nhã. Mà không phải Bát-nhã, thì thành cái gì khác chứ không thể thành Phật được.

Câu số 23: Người chứng được Thực tướng Bát-nhã, có quyền hủy hoại thân này hay không? Vì sao?

Đáp:

1. Chứng Thực tướng Bát-nhã, có hủy hoại thân thể hay không?

-  Nếu không cho thì còn chấp thân là thật, chưa chứng Bát-nhã.

-  Nếu cho thì mất mạng, là đã phạm giới Sát sanh, là giới quan trọng bậc nhất mà Phật đã chế. Hơn nữa, không lẽ ngộ Bát-nhã là phải bị mất đầu hay sao?

-  Chấp nhận chém đầu cũng chưa phải, không chấp nhận cũng không xong. Vậy làm sao mới phải?

Gợi ý:

  • Người quản tù không phải là phạm nhân bị ở tù.

Cũng ở trong nhà tù, tội nhân thì có cảm giác bị giam hãm, khổ sở; nhưng người cai quản thì ở trong đó hay ra ngoài cũng thấy bình thường. Có thể thấy, bị nhốt hay không là do tâm, không phải tại ngôi nhà lao.

  • Tương tự, thân này ví như ngôi nhà, tâm như người ở trong đó.

Khi còn mê, chấp thân là thật thì các khổ từ đó có ra. Cho nên, bị trói buộc hay không là do dính chấp, không phải tại thân tâm này, nó không có lỗi. Nếu giết thân, vẫn là chấp ngoan không.

Đã ngộ rồi thì sống trên thân mà vẫn tự tại, không khổ; như người quản tù ra vào nhà tù không ngăn ngại. Vậy thì thân này đâu có lỗi gì mà phải phá bỏ?

  • Nếu còn quan niệm muốn phá bỏ thì cũng là do còn chấp, thấy ngăn ngại cho nên mới bỏ.

Người thực sự suốt thông thì đối với tất cả chỉ là như người đã no món ngon nhìn thấy tô mì gói và nước lã vậy thôi, đâu có gì cần bàn nói!

Người ngộ Bát-nhã không những không cố định nhất thiết phải hủy hoại mà còn biết dùng thân này để làm lợi ích vô vàn, không chán mỏi, không thể kể hết.

2. Đối với các bậc chứng đạo bị hành hình thì thế nào?

-  Là do quý Ngài biết rõ nhân duyên định nghiệp quá khứ còn sót lại (dư báo) đến lúc phải trả; và tự tại trước nhân duyên xảy đến, trong đó không khởi thêm ý gì.

-  Không phải do ngộ Bát-nhã nên bị mất thân này, mà nhờ ngộ Bát-nhã, nên mới có lực tự tại.

  • Điển hình như câu chuyện Tổ Sư Tử và Tổ Huệ Khả

Tổ Sư Tử khi chấp nhận cho vua Di La Quật ở nước Kế Tân chém đầu thì nơi cổ của Tổ vọt ra sữa chứ không phải máu. Cánh tay phải của vua cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng hà. Đây là do nhân duyên quá khứ còn chép trong Bảo lâm truyện. (Xem tại phần phụ chú.)

Với Tổ Huệ Khả, Ngài biết trước nhân duyên đến lúc phải trả do đó đã để cho quan địa phương hành hình và viên tịch, chứ Ngài không phản ứng hay nói gì.

-  Đó là quý Ngài biết trước tiền duyên, định nghiệp đến lúc phải trả dư báo cho nên chấp nhận, chứ không phải do ngộ Bát-nhã.

-  Và cũng nhờ đã ngộ Bát-nhã cho nên tâm quý Ngài an nhiên, không động, không sanh tâm, không khổ, mặc dù trên hiện tướng là có trả quả báo.

-  Như cùng bị một hình phạt bắt buộc phải đấm vỡ năm viên ngói (bằng đất nung thành sành), nếu là trẻ con thì sẽ bị trọng thương. Nhưng với lực sĩ lừng danh thì việc này là bình thường, không thấy đó là hình phạt, không có gì đáng để bàn nói cả. Quý Ngài đã chứng ngộ Thể tánh Bát-nhã cũng tương tự.

-   Hoặc ví dụ như ông A phạm tội, đang bị nhốt và hành hình trong nhà tù, chứng kiến thấy ông rất đau đớn. Nhưng do có phép tàng hình cho nên khi nhìn ra ngoài kia, chúng ta lại thấy ông A đang đi dạo chơi ngoài vườn hoa rất thảnh thơi. Bị hành hình là việc của nhà tù, còn ông A thì vẫn thanh thản, không bị gì cả.

-   Và việc trả định nghiệp của quý Ngài đã chứng ngộ Thể tánh Bát-nhã cũng tương tự. Nếu những nghiệp nhẹ thì chuyển thành không, không phải trả quả báo. Với những định nghiệp, nghiệp nặng không thể chuyển hóa thì hiện tướng có trả nghiệp. Nhưng nhờ định lực, tuệ lực, vô biên lực trong Thể tánh Bát-nhã mà quý Ngài thấy bình thường.

-   Như vậy là trả nghiệp mà không trả gì cả; tuy không trả mà hiện tướng vẫn đang trả nghiệp; đó là sự vượt thoát nghiệp chướng bất tư nghì. Người chưa ngộ, còn khởi tâm, còn kẹt tướng, không thể thông suốt trong này được. Nỗ lực tu hành cho chứng ngộ đi, rồi sẽ rõ suốt. Nếu chưa thì dè dặt, đừng sanh tâm khởi niệm thấy biết và phán đoán theo phàm tình nhỏ hẹp còn trong mê muội của mình, sẽ bị nhân quả khó lường.

PHỤ CHÚ: Tích chuyện tiền thân giữa Tổ Sư Tử và vua Di La Quật, nước Kế Tân

Bấy giờ ở nước Kế Tân có hai nhà ngoại đạo rất giỏi phép huyễn thuật. Một là Ma Mục Đa, hai là Đô Lạc Giá. Một hôm, Đô Lạc Giá nhờ thông minh có sẵn, luyện huyễn thuật thành trước, nói với anh:

-  Em mưu định cùng anh vào cung làm phép giết vua để chiếm nước này.

Người anh nói:

-  Chúng ta phải cẩn thận, nếu để bại lộ sẽ liên lụy đến cả dòng họ.

Đô Lạc Giá đề nghị đổi hình thức bằng cách khoác ca-sa, giả danh là Tăng sĩ Phật giáo. Nếu âm mưu bại lộ nhà vua sẽ quy tội cho các Sa-môn. Quả việc không thành, cả hai đều bị quân phòng ngự bắt được và đem trình vua Di La Quật. Nhà vua nổi cơn thịnh nộ, quát lớn:

-  Ta đã quy y Tam Bảo, hết mình ủng hộ Tăng đoàn, tại sao các người định hại ta? Đạo đức của Tăng sĩ ở chỗ nào?

Do tức giận, nhà vua bài xích Phật giáo, triệt hạ chùa chiền và bắt nhốt các Tỳ-kheo. Nghe tin, Tổ Sư Tử họp chúng nói:

-   Lúc này vua Di La Quật không còn kính trọng Tăng đoàn, các người nên nhanh chóng lánh đi khỏi nước Kế Tân này.

Có người định đưa Tổ đi lánh nạn, Tổ nói:

-  Ta thấy 5 uẩn không, cần gì phải đi lánh?

Cơn thịnh nộ nung nấu trong lòng, vua Di La Quật đích thân cầm gươm báu đến Tinh xá của Tổ Sư Tử hỏi: - Thầy được pháp 5 uẩn không chưa?

Tổ đáp: - Đã được.

Vua hỏi: - Đã được, thế có sợ sống chết chăng?

Tổ đáp: - Đã lìa sống chết thì đâu có sợ?

Vua hỏi: - Đã chẳng sợ, có thể cho ta cái đầu chăng?

Tổ đáp: - Thân đã chẳng phải cái của ta, huống nữa cái đầu.

Vua liền vung kiếm, đầu Tổ Sư Tử rơi xuống đất. Nơi cổ sữa trắng phun cao chừng một trượng (thước ngày xưa). Cánh tay phải của vua Di La Quật cũng tự đứt. Vua phát bệnh. Sau 7 ngày, vua băng hà. Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và vì vua cha lập đàn sám hối, giải trừ oan nghiệp. Về phía Phật giáo, bốn chúng xây tháp phụng thờ Tổ Sư Tử.

Trong lúc Thái tử Quang Thủ đang buồn rầu và lo việc sám hối cho vua cha, có một vị tiên hiệu là Tượng Bạch Sơn đến chia buồn và nói với Thái tử Quang Thủ rằng:

-   Đó là duyên nghiệp đời trước của hai người. Trong một kiếp trước, nhà vua là một nhà bạch y hiền lành, rất ái mộ đạo Phật. Còn Tổ Sư Tử cũng là một nhà bạch y rất thông minh, có biện tài. Mỗi khi luận sự với ai, chẳng bao giờ chịu thua. Ông thường tìm cách bẻ gãy lý giải của người khác.

-   Một hôm, vốn sẵn có tâm đạo, nhà bạch y cha của Thái tử (tức tiền thân của vua Di La Quật) mở đại hội trai đàn. Bạch y Sư Tử đến phó hội. Hai người gặp nhau và đem Phật pháp ra bàn cãi. Cha của Thái tử ứng đối trúng lý. Đuối lý, bạch y Sư Tử nổi giận, phục độc dược khiến cha của Thái tử chết một cách tức tưởi.

-  Tuy đã trải qua nhiều đời, nhưng mối thù chưa có cơ hội thực hiện. Nay duyên nghiệp gặp nhau, vì thế phụ hoàng Di La Quật đã giết Tổ Sư Tử. Oán oán lại chồng chất, đang trong cơn tức giận, phụ hoàng đã vung kiếm quá đà. Chẳng may cánh tay đã lìa khỏi thân xác và kiệt sức nên phải băng hà (nhân duyên quá khứ của Tổ Sư Tử và vua Di La Quật có ghi rõ trong Thành trụ tập và Bảo lâm truyện).

Nghe vị tiên nói rõ oan trái tiền khiên, Thái tử Quang Thủ càng thêm xúc động. Thái tử cố giải trừ oan nghiệp cho vua cha, bằng cách, không những tiếp tục bái sám, làm các việc phước thiện mà còn trả tự do cho các Tăng sĩ, tiếp tục ủng hộ chùa chiền và sửa sang tháp của Tổ Sư Tử thêm khang trang, đẹp đẽ cho nhân dân chiêm bái.

Bấy giờ là đời Ngụy Tề vương, năm thứ 20, Kỷ Mão.

Câu số 24: “Tướng không của các pháp” có liên hệ gì tâm mình mà khi đạt được thì qua hết thảy khổ ách?

Đáp:

1. Khái quát bố cục bài Kinh Bát Nhã:

-  Mở đề đức Phật nói: “Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách”.

-  Tiếp theo, Ngài nói rõ: 5 uẩn không là: “Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác không... Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế.”

-  Tiếp theo: “Này Xá-lợi-phất! Tướng không của các pháp...” cho đến “Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa… được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

-  Tóm lại, khi tỏ suốt như vậy, cho đến thấu đáo thì đạt được kết quả là qua tất cả khổ ách.

Thế thì vấn đề được đặt ra ở đây là: Tướng không của các pháp có liên hệ gì tâm mình mà khi suốt thông thì qua hết thảy khổ ách?

2. Nhìn nhận chung

-  Không phải quan tâm trên “Tướng không” của các pháp bên ngoài, mà khi tâm không thì cảnh tự vắng lặng (cảnh tịch).

-  Chính nhờ “Tâm không – Cảnh tịch” nên tự có diệu lực cho hành giả tự tại, vượt thoát, các khổ ách không còn giá trị chi phối (không dính dáng gì), tức qua hết thảy khổ ách.

-   Muốn vậy, hành giả không dính kẹt trên các cảnh duyên, kể cả thân tâm sanh diệt. Cần thấy đúng bản chất các pháp là huyễn hóa, không thật nên không theo, không dính kẹt trên nó. Ngay đó, nhận lại Tánh thể Bát-nhã chính mình. Lúc này, diệu lực tánh thể ấy khiến các khổ ách tự không chạm tới được, gọi là qua hết thảy khổ ách.

-   Đây là nội dung: Khéo nhận đúng “Tướng không các pháp” thì qua hết thảy khổ ách. Chính là ý nghĩa khái lược giải đáp cho câu hỏi trên.

3. Cụ thể công phu

-   Dùng Trí tuệ Bát-nhã thấy tột tất cả các pháp vốn huyễn hóa, rỗng tuếch (Tướng không), lúc này sẽ ngộ pháp giới tánh vốn không.

-   Ngay khi thấu suốt các pháp là huyễn hóa, rỗng tuếch thì Tâm không(rỗng rang), Cảnh tịch(vắng lặng).

Lúc này “Tâm ta” cùng “Tánh pháp giới” vốn đồng.

-    Không phải có “cái tâm mình” đồng với “tánh của pháp giới” kia. Nếu thế thì đã lập thành pháp, đã có một cái “tâm không” và có một cái “pháp giới Tánh không” để đồng nhau, rơi vào hai bên; do đó cả hai đều thành pháp có, là rơi vào sanh diệt của có và không, không còn là Bát-nhã.

-   Mà ngay đây, thấy biết như thị, vượt Năng – Sở; Căn – Cảnh... không phải một, cũng chẳng phải khác.

Lúc này,cây gậy là cây gậy, hoa hồng là hoa hồng.

Tâm này mới đủ năng lực, định lực, tuệ lực, vô biên lực, tự nó vượt thoát tất cả khổ ách.

  • Khi vượt thoát như vậy thì khổ ách còn mà thoát hay hết mới thoát? Nói đã qua hết thảy khổ ách, tại sao đức Phật vẫn còn bị 8 nạn?

-    Nếu đặt vấn đề là còn khổ ách hay hết khổ ách (mới qua được hết thảy khổ ách) là đã can thiệp trên khổ ách để bàn luận, hiểu biết; tức quên tâm, dính trên cảnh, thì khổ ách vẫn còn nguyên.

-    Vượt thoát ở đây chính là sức tự tại của Tánh thể Bát-nhã, nó không nằm trong còn khổ ách hay hết khổ ách. Mà có hay không đều không đến kịp, tất cả toàn không dính dáng. Ngay đó tự tại, vượt thoát, các khổ ách liền đó qua sạch.

-    Cho nên đối với đức Phật, dù bị 8 nạn hay nhiều hơn đi nữa cũng chẳng dính dáng gì Ngài. Đức Thế Tôn vẫn tự tại, giải thoát.

  • Kiểm chứng:

-  Thứ nhất, chứng thực nơi tâm hành giả: Thiền sư Huyền Giác nói: “Chứng thực tướng, vô nhân pháp; Sát-na diệt khước A-tỳ nghiệp; Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh; Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp”.[1]

  • Ngài nói, người chứng được thực tướng, tức nhận lại Thực tướng Bát-nhã chính mình, thì vẫn thấy rõ đây là người, kia là pháp (cảnh), không lẫn lộn, tức không phải một; nhưng bởi không còn niệm phân biệt, cho nên người và pháp cũng chẳng phải khác. Không phải một, không phải khác cho nên không có chỗ cho ý thức lập nên bất kỳ một pháp gì cả. Lúc này, tánh tự sáng ngời, thấy biết như thị, vượt Năng – Sở, Căn - Cảnh... Người đã chứng thực tướng sẽ tự sáng rỡ rõ ràng như vậy.
  • Lúc này, trong khảy móng tay dứt sạch nghiệp địa ngục. Người đạt được thật tướng không còn thấy mình là thật, sự vật là thật; thấy biết không nằm trong Căn – Cảnh, Ta – Người, tất cả tự trong lặng, sáng ngời, bao nhiêu thứ nghiệp liền đó cũng được lặng trong như thế.
  • Lời nói đó có thật hay không? Thiền sư Huyền Giác quả quyết rằng: Nếu đem lời dối trá để lừa gạt chúng sanh thì tôi tự chịu nghiệp đọa địa ngục, bị cày trên lưỡi trong số kiếp nhiều như cát bụi. Ngài khẳng định đó là sự thật, và ai chứng ngộ thật tướng Bát-nhã cũng tự thấy ra như vậy.

-    Thứ hai, trong bài Kinh Bát Nhã: Đức Phật minh định chính Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, soi thấy 5 uẩn không, liền qua hết thảy khổ ách. Cụ thể: Đức Phật triển khai rộng thêm:

1) “Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác không... Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế”:

Khi đã thấy rõ, tỏ suốt “chẳng khác”như vậy, tức rõ các pháp không thật, liền lìa.

2) “Này Xá-lợi-phất! Tướng không của các pháp... không thêm không bớt”:

Rõ tướng không của vạn sự, vạn vật, vốn như thế, rỗng tuếch, không thật và tự nó cũng không nói như vậy. Chỉ do chúng ta lầm nên thấy là thật.

3) “Cho nên trong tướng không…không có trí tuệ cũng không có chứng đắc”: Ngay khi biết các pháp là không, liền đó tâm rỗng lặng. Trong tánh rỗng lặng thì không (lặng trong) tất cả.

4) “Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm không ngăn ngại…đạt đến cứu cánh Niết-bàn”:

Chính vì Bồ-tát không có chỗ được như vậy cho nên tâm không ngăn ngại, không sợ hãi. Bởi, khi không tất cả mình và pháp thì trong ngoài rỗng suốt, trong lặng, sẽ không có chỗ được. Lúc này, trả lại tự tánh chính mình, Tánh thể Bát-nhã hiện tiền. Tánh đó tự có sức tự tại, lưu thông, nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại; chính là nghĩa “không ngăn ngại, không sợ hãi”.

Đó chính là sức tự tại trong Tánh thể Bát-nhã. Chính vì Bồ-tát đạt được tánh thể đó cho nên các điên đảo mộng tưởng tự lìa, tất cả tự sạch trong.

5) “Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”:

Khẳng định chư Phật trong ba đời đều nương vào sức tự tại trong tự tánh đó mà thành đạo quả Bồ-đề. Tức là phải từ tự tánh đó mới thành Phật, không thể khác.

4. Tóm kết

Mấu chốt của câu hỏi: Không nên quên tâm mà nhìn theo tướng bên ngoài để tìm tướng không trên các pháp thì mới suốt thông. Nếu dụng công tu hành như vậy sẽ vô lực, không có hiệu quả.

(Tham khảo thêm “Câu số 28: Nói ‘Tướng không’, hay ‘Tánh không’ mới phải?”)

Câu số 25: Thế nào là hành sâu (hành thâm) Bát-nhã?

Đáp:

Nghĩa của hành thâm là miên mật, không gián đoạn, không xen hở. Tùy theo trình độ và công phu của từng hành giả cao hay thấp mà mức độ miên mật cũng có sâu hoặc cạn khác nhau. Ở đây tạm nêu hai mức độ tiêu biểu:

1) Đang còn công phu: Hằng thấy suốt tột các pháp là huyễn hóa, như bóng trăng đáy nước, thấy thì có mà vớt thì không. Tuy nhiên, lúc này vì đang còn trong quá trình công phu tu tập cho nên vẫn còn thấy hai: Còn thấy mình đang sống bằng tâm chân thật, và còn thấy các pháp là như huyễn.

2) Sống bằng Thực tướng Bát-nhã (Thể tánh Bát-nhã): Tâm ấy hằng như vậy, không xen hở, tức là hành thâm (hành sâu).

Sức sống này cũng có nhiều trình độ, nhưng tựu trung có thể thông qua hai trình độ cơ bản như sau:

1) Với người mới khéo thầm nhận, rồi từ đó sống về, miên mật bảo nhậm: Tuy cũng có lực, nhưng chưa được mạnh.

2) Với người đã chứng ngộ: Đi đứng nói cười đều hằng như vậy. Lúc này, nhúc nhích là tánh này, không khác.

Tức là hành thâm.

Câu số 26: Bát Nhã nói: “Sắc chẳng khác không… Không nhơ không sạch…” Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!”[2]. Bát-nhã nhìn thế nào về tình huống này?

-   Nếu gắp cứt chuột ra để ăn, thì còn thấy nhơ và sạch, sắc và không (có và không) khác nhau, tức là đã có phân biệt, là trái với Bát-nhã (chưa thông Bát-nhã).

-   Nếu không phân biệt, ăn bình thường thì vô minh, không biết nhơ sạch. Bát-nhã là trí tuệ rốt ráo thì làm sao lại có vô minh?

-    Vậy phải làm thế nào mới phải?

Đáp:

-    Sẽ giải ở câu kế dưới.

Câu số 27: Thế nào là “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc”?

Đáp:

Tham khảo mẩu chuyện: Thiền sư Kim Bích Phong và cái bát ngọc

Thiền sư Kim Bích Phong, sau khi chứng ngộ, Sư buông hết mọi tham ái ở đời, nhưng còn quý thích cái bát ngọc dùng để ăn cơm cho nên thường giữ bên cạnh không rời. Mỗi lần nhập định, Sư chùi rửa cái bát ngọc và đem cất giấu thật kỹ để an tâm. Có lần tuổi thọ sắp hết, vua Diêm La sai quỷ đến bắt. Thiền sư Kim Bích Phong tự biết thời mình sắp mãn, cho nên mỉm cười nhập định để xem vua Diêm La làm được gì. Khi quỷ sứ đến bên cạnh Sư, đi lòng vòng một ngày, hai ngày mà không tìm thấy Sư ở đâu cả. Cuối cùng quỷ sứ đi hỏi Thổ Địa thì được mách bảo:

-  Vị Thiền sư này thường ngày rất thích cái bát ngọc. Nếu ông có cách gì đem cái bát ngọc đó đi, làm Sư động niệm sẽ xuất định thì bắt được.

Quỷ đi đến chỗ cái bát ngọc làm lay động vang ra tiếng, Sư nghe và động niệm xuất định để giữ cái bát lại. Ngay đó, quỷ vỗ tay cười to:

-   Hay! Hay! Bây giờ thì xin mời Ngài đi theo tôi đến gặp Diêm Vương.

Thiền sư Kim Bích Phong liền sực tỉnh lại, biết rõ do tâm tham ái cái bát ngọc mà đánh mất đi huệ mạng ngàn năm. Sư liền đập vỡ cái bát rồi nói bài kệ và nhập định lại.

Bài kệ:

Nhược nhơn dục nã Kim Bích Phong

Trừ phi thiết luyện tỏa hư không

Hư không nhược năng tỏa đắc trụ

Tái lai bả ngã Kim Bích Phong.

Nghĩa:

Nếu người muốn bắt Kim Bích Phong

Trừ khi sắt luyện khóa hư không

Nếu hay khóa được hư không ấy

Trở lại bắt ta Kim Bích Phong.

Ngay đó, Sư nhập Niết-bàn vô trụ. Quỷ hết bắt được.

*Trở lại câu hỏi về Sắc - Không

 SẮC và KHÔNG = CÓ và KHÔNG

  • Xác định nội dung: Đây là thấy Bát-nhã theo chiều hướng, trình độ của hành giả còn trong quá trình dụng công tu tập, chưa ngộ rốt ráo Thực tướng Bát-nhã.
  • Cụ thể ở đây:

-    Sắc: Là sắc chất, có tướng, cũng chỉ cho Sắc thân.

-    Không: Là Thể tánh không của Bát-nhã.

  • Ví dụ cụ thể: Nhìn vào hư không, thấy không có gì (tức không). Nhưng khi đặt máy hút ẩm thì thu hoạch được nước (tức có, sắc). Như vậy tạm hiểu là không tức sắc (hư không, không thấy gì, nhưng lại có nước).

Lấy bình nước vừa hút ẩm thu hoạch được (sắc), để giữa trời nắng, nước bốc hơi, không còn gì (không). Tức không lâu bền, có đó rồi không đó, tạm hiểu là sắc tức không. Tức là ở trong một điều kiện khác thì nước hóa thành thể hơi, coi như là không, nhưng không phải mất đi đâu cả, gọi là tức. Đây chỉ là ví dụ tham khảo thêm. Đừng nhằm trên ấy để tìm đạo lý.

  • Tóm lại:Nếu còn trong sanh diệt, biến hiện, thì:

-    Dùng trí tuệ soi thấy các pháp (là sắc) thể tánh vốn không.

Đó là, Sắc tức Không.

-    Thể tánh không, nhưng duyên hợp thì tạm có (là sắc).

Đó là, Không tức Sắc.

Nói rộng

  • Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!”

-   Tô canh ngon → Đang bình thường = Tức là Không.

-   Đang bình thường, vì hai cục phân chuột → Liền sanh tâm = Tức là Sắc.

Đó là, Không tức là Sắc.

-   Hai cục phân chuột = Đang có = Tức là Sắc.

-   Bình thường, gắp ra, không sanh tâm = Tức là Không.

Đó là, Sắc tức là Không.

Phân chuột là tướng sắc bên ngoài. Sanh tâm là tướng sắc bên trong. Dù ngoài hay trong, đều cùng là tướng sắc che lấp thể tánh, khiến hành giả bị ngăn ngại. Chỉ cần không dính kẹt vào bất kỳ tướng sắc nào, liền đó trả lại Tánh thể Bát-nhã, linh thông, vô quái ngại.

  • Qua tự truyện của Thiền sư Kim Bích Phong:

-   Đang ngồi nhập định = là Sắc. Nhưng quỷ không thấy = là Không.

Đó là, Sắc tức Không.

-    Đang nhập định, quỷ không thấy = là Không. Nhưng khởi tâm thì quỷ liền thấy = là Sắc.

Đó là, Không tức Sắc.

Thân mình là tướng sắc bên ngoài. Động niệm là tướng sắc trong tâm. Cả hai đồng là tướng sắc, ngăn ngại chân tánh, bị các khổ chi phối. Hành giả khéo suốt qua, không dừng trụ trên tất cả, liền đó Tánh thể Bát-nhã toàn bày, liền qua hết thảy khổ ách.

2. Đã đạt Thực tướng Bát-nhã, sống bằng Tâm không Bát-nhã thì Cảnh tịch (vắng lặng):

Chân không: LàThể tánh Bát-nhã vắng bặt, không động, không một vật.

Diệu hữu: Làliễu biệt, linh thông, diệu dụng bất tư nghì.

  • Ví dụ: Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!”

-   Thấy rõ phân chuột là phân chuột, canh là canh = Đó là Sắc.

-   Nhưng không động, không phân biệt = Đó là Không.

Cho thấy, ngay Sắc vẫn là Không.

-   Không động, không phân biệt = Là Không.

-   Nhưng tùy duyên bình thường gắp bỏ phân chuột ra = Là Sắc.

Cho thấy, ngay Không hay hiện Sắc.

-   Phân và canh rõ ràng = Do đó, không phải là một, cho nên không phải vô minh.

-  Tuy phân và canh rõ ràng, nhưng vẫn không phân biệt = Cho nên, không phải là khác; do đó, không động.

Chỉ là không động, nhưng liễu biệt, rõ ràng. Là lời giải cho câu hỏi số 26 ở trên.

Tóm lại: Khi nói đến ý nghĩa “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc”, Thiền sư Bạch Ẩn nói: “Một bát canh thật ngon. Ôi thôi, hai cục cứt chuột!”

  • Giả sử: Tô canh này là thứ duy nhất đối với mình khi đang ở giữa một vùng sa mạc rộng lớn. Đổ bỏ đi sẽ bị chết, buộc phải ăn thì mới sống sót được.

-   Nếu không ăn, xem nhẹ thân mạng và liều chết, trong khi khả năng để sống vẫn còn thì phạm giới sát sanh Phật đã chế, là phạm trọng tội.

-   Nếu gắp cứt chuột ra để ăn thì còn thấy nhơ và sạch, sắc và không khác nhau, tức là đã có phân biệt, là trái với Bát-nhã.

-   Nếu không phân biệt, ăn bình thường thì vô minh, không biết nhơ sạch. Bát-nhã là trí tuệ rốt ráo, tại sao lại có vô minh, không biết nhơ sạch?

-   Vậy làm sao mới phải?

Gợi ý:

-   Hãy bỏ qua mọi lý thuyết, nghĩ suy. Tâm - Cảnh, Sắc - Không, đều dứt bặt. Nhìn lại thực tại và hỏi:

-   Khi chưa học Bát Nhã, chúng ta sẽ làm gì với tô canh này? Đáp: Sẽ gắp bỏ phân chuột ra khỏi tô canh và ăn bình thường.

-   Vậy, hãy làm việc đó, làm những việc bình thường hằng ngày vẫn làm bằng tâm rỗng lặng, liễu biệt mà không cần có niệm phân biệt. Đó là biết sống bằng Bát-nhã.

  • Một ví dụ khác: Đi thám hiểm Châu Phi gặp nạn, bị mất hết hành lý, không tìm lại được và có thể đưa đến tử vong. Nếu thấy sắc tức là không, không tức là sắc... đời là huyễn hóa, thân cũng huyễn hóa, mọi thứ đều huyễn hóa... thì sẽ chết. Vậy phải làm sao?

Hỏi lại: Giả sử khi cho mọi thứ là thật thì sẽ làm gì lúc này?

Đáp: Sẽ làm mọi thứ có thể để được tồn tại.

Trả lời: Vậy, hãy dùng tâm thấy biết như huyễn để làm việc ấy. Lúc này sẽ bình tĩnh, sáng suốt và làm mọi việc một cách hiệu quả hơn.

  • Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm nói:

Ngại xứ phi tường bích,

Thông xứ vật hư không.

Nhược nhân như thị giải,

Tâm sắc bản lai đồng.

Nghĩa:

Chỗ ngại chẳng tường vách,

Chỗ thông đâu hư không.

Nếu người hiểu như thế,

Tâm sắc xưa nay đồng.[3]

  • Ngại xứ phi tường bích: Chỗ ngại chẳng tường vách.

Ví dụ, hai người ở cạnh phòng nhau. Anh A gọi, anh B trả lời. Anh A hỏi: “Cách một bức tường, tại sao không thấy nhau?”

Nếu không có Trí tuệ Bát-nhã sẽ nhìn trên thân tướng thì rõ ràng là bị bức tường làm ngăn ngại, không thấy nhau thật; sẽ thấy là do bức tường ngăn cho nên không thể thấy nhau. Đó là phàm phu, chưa tỏ ngộ Bát-nhã.

Đã suốt thông Bát-nhã, thấu tột các pháp đều hư huyễn, thấy nghe suốt qua các tướng của thân, tâm, tường vách; không dừng trụ vào bất cứ nơi đâu; ngay đây, gọi liền nghe, liền ứng dạ một cách linh thông, như nhiên, sinh động nhưng bất động, Thể tánh Bát-nhã đang rạng ngời, tường vách nào ngăn được? Cho nên nói: “Ngại xứ phi tường bích”.

Anh A hỏi tiếp: “Nếu tường vách không ngăn được. Thử hỏi hiện nay tôi đang ngồi hay nằm?”

Nghe liền kẹt tâm chấp tướng, muốn tìm thấy trên thân tâm thì sẽ không đáp được, là đã bị bức tường ngăn che. Nếu Tâm không – Cảnh tịch, mặc tình thấy nghe suốt khắp thì đâu đợi nhìn thấy cái thân huyễn hóa để trả lời theo tướng nằm hoặc ngồi làm gì. Chuyện đó là việc tầm thường của anh A, không có gì đáng nói. Chúng ta có biết việc ấy hay biết nhiều việc siêu huyền hơn nữa, cũng chỉ là biết việc bên ngoài, chính mình còn mê, còn tham sân khổ đau đầy dẫy, thật lòng có lợi ích gì rốt ráo tuyệt đối cho bản thân và người khác. Do đó, có biết cũng không ăn thua, chẳng có giá trị gì.

  • Thông xứ vật hư không: Chỗ thông đâu hư không.

Hai người ngồi cạnh nhau, không có một vật cản nào cả. Nhưng anh A trong đầu đang có chuyện bất ổn, ngồi thừ ra. Anh B nói chuyện huyên thuyên nhưng không nghe trao đổi lại. Bèn quay sang gọi: “Anh A, anh A”, nhưng anh A vẫn cứ ban ngày mở mắt chiêm bao, vẫn nhìn xa xăm không hay biết gì. Anh B lấy tay gạt lên gạt xuống trước mặt anh A hai ba lần, anh ấy mới giật phắt mình, tỉnh lại. Cho thấy, ngồi rất gần nhau và không gian không bị ngăn cách, nhưng vẫn không thông, vẫn bị ngăn cách hơn cả bức tường đá. Rõ ràng, hư không chưa hẳn là thông. Mà suốt thông là do có Trí tuệ Bát-nhã, thấy các pháp, mọi chuyện là huyễn hóa, không thật thì tâm sẽ suốt thông. Một khi tâm đã suốt thông thì không gian, thời gian, địa lý, vật chất, phi vật chất, có và không… hay bất cứ gì, đều suốt thông, không ngăn ngại.

  • Nhược nhân như thị giải, Tâm sắc bản lai đồng: Nếu người hiểu như thế, Tâm sắc xưa nay đồng.

Nhìn thấy và biết theo hình tướng thì tường vách (sắc) là ngăn ngại; là cái thấy của người mê, dính chấp mọi thứ cho là thật. Từ đó, sống và hiểu biết, dính chấp trên tướng, phải khổ. Không phải cái nhìn của Trí tuệ Bát-nhã.

Hư không chỉ là trống không so với có, nhưng nó vẫn có tướng của không. Trí tuệ Bát-nhã không dừng trên tất cả tướng, kể cả không tướng.

Nếu thường tỏ rõ các pháp vốn hư huyễn, không thật thì ngay đây tự lìa; Tâm liền không – Cảnh vắng bặt; thấy, nghe, hiểu biết suốt qua tất cả các tướng: tường vách và hư không, có và không, căn và cảnh... Không dừng trụ trên bất kỳ pháp nào.

Trong không thấy có tâm để gìn giữ, ngoài không thấy có cảnh đáng trừ. Lặng trong, sáng rỡ, linh thông đến chủ động nhưng bất động, tâm và cảnh không hai; không phải một cũng chẳng phải khác. Sẽ tỏ rõ: “Tâm sắc xưa nay đồng”.

  • Tóm lại:
  • Ngại xứ phi tường bích:

-   Có Sắc, nhưng không ngăn ngại = Không.

è Do đó, Sắc tức là Không.

  • Thông xứ vật hư không:

-   Dù là hư không, nhưng tâm vướng kẹt = Có.

è Cho nên, Không tức là Sắc.

  • Mới biết:

-   “Có (sắc) và Không” không phải do “những cảnh sắc có và không” bên ngoài, mà bởi tại tâm.

-   Mọi cảnh vẫn đang hiển hiện, nếu tâm thông, không ngăn ngại thì tâm cảnh như như, rõ ràng, không hai, “Tâm sắc xưa nay đồng”.

-   Không có niệm khởi: Đây là tâm, kia là cảnh; đây là sắc, kia là không; vì vậy cả hai “chẳng phải khác”.

-   Nhưng vẫn thấy biết rành rẽ, rõ ràng: Không và sắc, cảnh và tâm không lẫn lộn, cho nên cũng “chẳng phải một”.

-  “Chẳng phải khác, chẳng phải một” không có chỗ cho thức tình sanh khởi hay dựng lập nên một tướng pháp nào, liền đó, thấy biết vượt Năng - Sở, Có - Không. Ngay đây, không động nhưng rờ rỡ rõ ràng: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc” như thế, không thể nghĩ bàn.

*DẪN CHỨNG

  • Các Thiền sư nói:

Thanh thanh thúy trúc tổng thị pháp thân,

Uất uất hoàng hoa vô phi Bát-nhã.[4]

Xanh xanh trúc biếc thảy đều pháp thân,

Rợp rợp hoa vàng thảy đều Bát-nhã.

-   “Trúc biếc hoa vàng” không phải Bát-nhã a Không nhận lầm trên cảnh.

-   Nhưng tất cả không ra ngoài Bát-nhã a Tâm cảnh không hai.

  • Thiền sư Duy Tín đời Tống nói[5]:

-  “Trước khi gặp Thiện Tri Thức, thấy núi sông là núi sông”: Do còn là phàm phu, cho núi sông có thật.

-  “Sau khi gặp Thiện Tri Thức, thấy núi sông chẳng phải núi sông”: Bởi đã thông Bát Nhã, thấy núi sông huyễn hóa, không thật, Không dính mắc.

-  “Sau 30 năm, thấy núi sông là núi sông”: Lúc này đã thuần thục, sống bằng Thực tướng Bát-nhã a Không nói sắc, không nói không; chẳng khởi đây là tâm, kia là cảnh. Mà thấy biết vượt năng và sở, có và không. Tâm cảnh như như, cây gậy là cây gậy, núi sông là núi sông.

  • Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm dạy chúng:

-   Khi chưa có thế giới, trước đã có tánh này, khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại.

-   Tăng hỏi: Thế nào là tánh này?

-   Sư bảo: Tứ đại ngũ uẩn. (thân này)

-   Tăng thưa: Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tánh này?

-   Sư bảo: Tứ đại ngũ uẩn.[6] (thân này)

“Tánh này” không phải ở ngay thân tâm này, không ở vào bất kỳ đâu. Mà nó hiển hiện sáng ngời khắp tất cả, không nơi nào thiếu vắng. Hành giả ngay đây, ngay trước mắt, khéo nhận lại, liền xong. Cụ thể:

  • Ngay năm uẩn, không thiếu “tánh này”. Nhưng “tánh này” không phải năm uẩn.
  • Ngay năm uẩn (là tức), hoặc lìa năm uẩn (là ly) để tìm tánh này, đều là từ “cái thấy biết chưa rời cảnh” mà nói, nên còn mê, chưa thể ngộ ra “tánh này” được.
  • Chẳng phải ngay năm uẩn mà tìm tánh này, cho nên nói: “Chẳng phải tức” (bất tức). Cũng không thể lìa năm uẩn để tìm tánh này, cho nên nói: “Chẳng phải ly” (bất ly).

Chỉ là, hay sạch đi tất cả niệm phân biệt tâm và cảnh, chơn và vọng, sắc và không… thoạt nghe kêu liền dạ; gặp việc vẫn tự tại làm việc rất đỗi bình thường, nhưng bất động, rạng ngời. Ngay đó, chẳng phải ngay đây, chẳng phải lìa đây (bất tức, bất ly); Thể tánh Bát-nhã hiện tiền, sáng biết rành rành như thế; khởi thêm làm gì!

Sẽ tỏ rõ “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc” không thể nghĩ lường.

3. Tóm kết

  • Với người chưa ngộ, còn tu tập:

-   Dùng trí tuệ soi thấy các pháp (là sắc) thể tánh vốn không, Sắc tức là Không.

-   Thể tánh không, nhưng duyên hợp thì tạm có (là sắc), Không tức là Sắc.

  • Với người đã đạt Thực tướng Bát-nhã:

-   Thấy biết vượt năng và sở, có và không, căn và cảnh... cây gậy là cây gậy; không phải một, cũng không phải khác (đã nói rõ ở trên). Lúc này, sẽ tự tỏ rõ: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc” bất tư nghì như thế.

  • Bất tư nghì, còn gọi là “Bất khả tư nghì”: Không thể nghĩ bàn.

-  Thiền sư Duy Khoan nói: “Nghĩ đó chẳng đến, bàn đó chẳng được. Cho nên nói không thể nghĩ bàn.”[7]

-  Trong Triệu luận, Ngài Tăng Triệu nói: “Tri kỳ nhiên, nhi bất tri kỳ sở dĩ nhiên giả. Bất tư nghì chi nghĩa dã.”[8] Nghĩa là: “Biết nó là như vậy, nhưng không biết vì sao như vậy; gọi là không thể nghĩ bàn.”

 

TỔNG HỢP QUA MỘT CÁCH KHÁC VỀ:

SẮC CHẲNG KHÁC KHÔNG – KHÔNG CHẲNG KHÁC SẮC

SẮC TỨC LÀ KHÔNG – KHÔNG TỨC LÀ SẮC

1. SẮC LÀ CÓ; KHÔNG LÀ GIẢ TẠM, KHÔNG THẬT CÓ

1.1. Thời gian: Vô thường biến hoại.

-   Có đó rồi không đó, không bền chắc, cho nên giả tạm.

-   Ví dụ: Thân người khi chưa sanh thì không có; sanh ra rồi tạm có; trưởng thành, đến già, rồi thì cũng chết; nên chỉ là giả tạm.

1.2. Không gian: Không chủ tể, duyên hợp.

-    Đủ duyên, tụ lại thì “Thành”, gọi là “Có”.

-    Hết duyên, tan rã thì “Không”.

Cho thấy, đang có cũng như không. Do đó, các pháp huyễn hóa, không thật.

-    Ví dụ: Thân người do nhiều bộ phận, nhiều yếu tố cần thiết hợp lại mà tạo thành (Đất: xương, cơ, gân…; Nước: máu, mủ...; Gió: hơi thở...; Lửa: hơi ấm…), tạm gọi là “Có”. Khi hết duyên, chúng tan rã, trở thành “Không”.

1.3. Hư không: Dao động, không cứng chắc.

-    Các pháp do nhiều nhân duyên, nhiều phân tử, tế bào tựa vào nhau, kết hợp lại mà thành. Vì thế, có khoảng không giữa các tế bào, phân tử, cho nên chúng luôn dao động, hợp tan liên tục, vì thế không thật.

-   Ví dụ: Cuộc sống con người, nhờ có khoảng không cho nên mới vận động, nhúc nhích, tồn tại và chuyển biến một cách liên tục. Nếu bị nhốt trong một không gian hẹp, không có không khí để thở, không thể nhúc nhích được thì con người không thể tồn tại. Sự có mặt trong điều kiện có giới hạn cho nên không thể đạt được sự vô hạn, cụ thể cuộc sống gặp nhiều bất ổn, già bệnh thay đổi... Do đó, không bền chắc.

2. SẮC LÀ CÁC PHÁP, MUÔN SỰ MUÔN VẬT; KHÔNG LÀ TÂM KHÔNG, VẮNG LẶNG, SÁNG BIẾT

2.1. Tâm sanh các pháp sanh

Sự việc, vạn vật có và không đều do tâm, cho nên không thật.

  • Vạn vật từ tâm (từ tâm điều khiển mà chúng được làm nên)

-  Tâm sanh thì các pháp từ đây mà sanh.

-  Tâm diệt thì các pháp cũng diệt.

Cho nên biết: Sắc tức là không, không tức là sắc. Không chẳng khác sắc, sắc chẳng khác không.

  • Nhờ tâm nhận biết nên mọi thứ hiện hữu, tồn tại

-   Tâm không thì các pháp dù có cũng là không.

-   Tâm biết thì các pháp từ đây mà có. Ở đây có 2 trình độ:

  • Nếu đã ngộ (bằng tâm liễu biệt): tánh tự sáng biết cho nên mọi thứ đang hiện hữu, không phải là “có” hay “không”, mà là một sự hiển hiện sáng ngời trong tự tánh chánh định chính mình. Do đây, các pháp mới được ghi nhận là đang tồn tại (có). Cho thấy, tâm sanh, các pháp sanh; tâm diệt, các pháp diệt.
  • Nếu bằng tâm phân biệt: nhờ tâm nhận biết, phân biệt nên các pháp mới có giá trị. Ngược lại thì có cũng như không.

Cho nên: Sắc đó , Liền không.

Không đó,  Liền sắc.

2.2. Tâm không - Cảnh tịch

-   Thấy biết vượt “có” và “không”, do đó thấy rõ: Sắc tức là không.

-   “Sắc và không” không phải hai, không phải khác, nhưng không phải một. Chỉ cần có cái thấy vượt lên trên tất cả, liền như thế mà suốt biết: Như thị – Không động – Linh thông – Tự tại.

  

TÓM KẾT

Lục Tổ dạy: “Nên biết bản tánh tự có trí Bát-nhã, vì tự dùng trí tuệ thường soi sáng, chẳng nhờ văn tự.”[9]

  • Ví dụ:

-   Chúng ta: Có nhiều diệu lý học không thể hiểu. Nhưng thường có những khoảnh khắc vàng, thời điểm lóe sáng, bất chợt “À ra”, tự thấy ra các diệu lý ấy một cách rõ ràng và vô cùng sâu mầu, độc đáo, rất đúng với diệu chỉ sâu xa Phật Tổ khai thị (điển hình như Sắc – Không). Đó là Trí tuệ Bát-nhã đã sẵn ngay tự tánh và hiển hiện ra, trí đó dạy cho chúng ta tự nhận ra điều đó.

-    Các bậc chứng ngộ: Trong tự tánh đó, tự thấy ra tất cả, không phải kiến thức học hiểu (chỗ ấy có học hiểu bao nhiêu cũng không thấu đạt đến).

-    Cho thấy: Trí Bát-nhã đã sẵn nơi tự tánh mỗi người. Đức Phật chỉ khéo khai thị cho chúng ta nhận lại chứ không làm gì thêm trong đó cả.

-    Chúng ta học Bát Nhã để tu cho có kết quả, tức khéo nhận lại cái đã sẵn, chứ không phải theo văn tự, chữ nghĩa, mà quên trọng tâm này. Lúc này, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, bao nhiêu nghĩa lý diệu huyền đều đã sẵn đủ trong ấy. Như vậy mới khéo biết cách học và thuộc bài Bát Nhã Tâm Kinh.

  • Đạt ngộ Thể tánh Bát-nhã

-    Không dừng trên bất kỳ pháp nào. Thấy biết suốt qua các pháp, muôn sự, muôn vật.

-    Suốt thông bản chất các pháp là huyễn hóa, không thật;

-    Nhận chân Tánh thể Bát-nhã.

-   Cuối cùng đạt đến đệ nhất nghĩa đế (không nằm trong không và sắc, huyễn và chân).

Đó là cái nhìn bằng Trí tuệ Bát-nhã.

  • Yếu chỉ Bát Nhã đức Phật muốn dạy: Không trụ trước trên lý Sắc – Không. Cốt yếu là phải nhận lại tự tánh chính mình. Cụ thể:

-    Nói Sắc – Không, để tỏ suốt tất cả đều huyễn hóa.

-    Không theo huyễn, khéo nhận lại Tánh chơn, Tánh thể Bát-nhã.

-    Lúc này, vượt thoát Huyễn – Chơn, Sắc – Không; thấy rõ tất cả nhưng vẫn như thị, tự tại.

-    Từ trong đó mới thấy, bản tánh tự có trí Bát-nhã. Và trí Bát-nhã vốn từ tự tánh; có nghĩa là trở lại bản tánh, trí này tự biết tùy duyên, nên làm gì, mà vẫn vô tướng, bất động, tùy thời bày hoặc thu, phá hoặc lập, sắc hoặc không... vẫn không tất cả tướng ấy. Tất cả nhằm đưa đến một mục đích chính, để đẩy học nhơn nhận lại Tánh thể Bát-nhã chính mình.

-    Đó là yếu chỉ Bát Nhã. Nếu nhằm trên Sắc – Không hay Huyễn – Chơn mà nói thì vẫn còn mê, không có giá trị cứu khổ.

  • Tóm lại

-    Không dừng ở Sắc - Không.

-    Nhận ra “cái đang thấy biết” Sắc – Không và tất cả.

-    Có tất cả những gì, “cái này” đều thấy biết hết.

Sẽ sáng ra, Bát Nhã muốn dạy những gì.

Câu số 28: Nói “Tướng không”, hay “Tánh không” mới phải?

Đáp:

1. CÁC PHẠM TRÙ ĐỂ HIỂU VỀ TƯỚNG KHÔNG VÀ TÁNH KHÔNG

  • Tướng không

-  Tướng: Tướng của vạn sự vạn vật;

-  Không: Tuy đang có nhưng do vô thường, biến hoại (nhìn theo thời gian) hoặc do duyên hợp, không có chủ tể (nhìn theo không gian)... cho nên không chắc thật, gọi là không. (Xem thêm tại “Câu số 4: Chữ ‘Không’ trong Bát Nhã được hiểu qua mấy thuyết?”)

  • Tánh không: Có 2

-   Thứ nhất: vạn sự, vạn vật tuy đang có, nhưng bản chất của nó vốn là không, là huyễn hóa; thì cái “tính chất” hay “bản chất” này được gọi là “tánh”, cho nên nói tánh các pháp vốn không. Danh từ hiện nay gọi là bản chất các pháp vốn không.

-    Thứ hai: chỉ cho tự tánh chính mình, xưa nay vốn không một vật.

  • Câu hỏi đặt ra: Qua các phạm trù về cái Không của Tánh và Tướng như trên, thì nói “Tướng không” mới phải hay “Tánh không” mới phải?

2. NHẤT QUÁN TẦM NHÌN

Để giải quyết câu hỏi này, đầu tiên phải nhất quán tầm nhìn, đó là tất cả phải cùng đi đến một tiêu chí duy nhất, cụ thể:

-   Bàn Tướng không, hay Tánh không của các pháp gì đi nữa thì cuối cùng bắt buộc tất cả đều phải đưa đến đạt ngộ Tánh thể Bát-nhã.

-   Được như thế mới đúng với bản hoài của đức Phật, đúng với ý chỉ của Kinh, là nói pháp cốt để cho chúng sanh giác ngộ, dứt khổ sanh tử, được an lạc diệu thường.

-   Đồng thời cũng đúng với tâm nguyện của người tu Phật, là đạt được giác ngộ, qua hết thảy khổ ách.

-    Cần thấy đầy đủ qua các điểm trọng tâm bên dưới, sẽ thấu suốt, không lầm.

3. PHÂN TÍCH CHI TIẾT

3.1. Bản chất vốn không

-   Đây là một sự thật, bởi thực tế các pháp vốn không chủ tể, do duyên hợp mà thành. Cho nên, bản chất các tướng là không, đồng thời bản chất cũng được gọi là tánh.

-   Vì bản chất như thế cho nên nói Tướng không hay Tánh không gì thì cũng đều cùng một ý nghĩa như nhau, tức là:

  • Bản chất các pháp vốn không,
  • Cho nên Tánh hay Tướng gì cũng đều Không (không thật).

3.2. Nhờ tâm nhận biết

-   Nếu không có con người nhận biết, thì các pháp tự là các pháp. Tự nó không nói là Tánh không hay Tướng không gì cả.

-   Sở dĩ nói là Tánh không hay Tướng không, bởi chúng ta còn thầm cho các pháp là thật rồi dính chấp trên đó, do đó phải nói cho biết, để khéo tu, không lầm chấp nhận giặc làm con.

-   Nếu vẫn sống, hành hoạt, tu hành, làm việc... mà không sanh tâm thì các pháp vẫn là các pháp; nhưng lúc này tất cả hiển hiện một cách rõ ràng, rạng ngời, chủ động, linh thông vẫn không động. Bằng cái thấy biết như vậy để sống thì ngay khi làm tốt mọi chuyện trong đời, cũng là lúc đang thành toàn diệu hạnh chính mình, có thế mới tiến đến viên mãn Phật đạo.

3.3. Các pháp do tâm

-   Nếu khởi tâm chấp cho các pháp là thật, thì thấy các pháp là có, cho nên dính mắc, phải khổ đau.

-   Nếu tâm không sanh khởi, thì các pháp đang có cũng là không, cho nên không dính nhiễm, được tự tại.

  • Rốt cuộc: Nói có, nói không, mục đích để con người dừng nhiễm trước, nhận lại tánh thật, được giác ngộ, tự tại, giải thoát khỏi khổ lớn sanh tử.
  • Tóm lại: Cần xác định đúng tiêu chí và đích đến để học và tu. Không phải sa đà trên có và không của các pháp, chỉ thêm mê, không giải quyết được tất cả khổ ách như kinh văn đức Phật khẳng định.

3.4. Cứu cánh – Rốt ráo

-  Khi thấy rõ tướng các pháp là huyễn hóa, bản chất, bản tánh nó vốn không, suốt thông một pháp không thì tất cả các pháp trong hằng sa thế giới thảy đều không. Lúc này sẽ suốt tột tánh pháp giới không, tâm trở nên rỗng rang, vắng lặng.

-  Khi ấy, tâm ta cùng tánh pháp giới vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một tánh pháp giới kia, mà khi tâm không thì cảnh tịch, tâm cảnh nhất như, tất cả thênh thang, tự tại, tạm gọi là đồng.

-   Chính sức sống này, hết thảy khổ ách không đến kịp (toàn không dính dáng). Đây là cái thấy từ Tánh thể Bát-nhã.

-    Khi này, sẽ không cần quan tâm đến Tướng không hay Tánh không gì cả.

& DẪN CHỨNG: Tăng Thống Khánh Hỷ, Việt Nam:

-  Đệ tử Pháp Dung hỏi Ngài Khánh Hỷ: “Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?”

-   Tăng Thống Khánh Hỷ ứng thanh đáp bài kệ:

Uổng công thôi hỏi sắc cùng không,

Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông.

Còn nhằm trên sắc không bên ngoài để tìm hiểu thì sẽ phí công, vô ích. Người học đạo, muốn giác ngộ chỗ đức Phật chỉ bày, không gì hơn là phải nhận lại bản tâm chính mình. Lúc này, tất cả tự sáng ngời.

Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy,

Thế gian trồng quế đâu thành rừng.

Đừng mê lầm đi tìm bên ngoài, không thể được.

Đầu lông trùm cả càn khôn thảy,

Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong.

Tâm tánh này vô tướng, không nằm trong Lớn - Nhỏ, Có - Không... Trong đó, có đầy đủ diệu dụng và sức tự tại.

Đại dụng hiện tiền tay nắm vững,

Ai phân phàm thánh với tây đông.

Dứt tâm tìm cầu Đây - Kia, Sắc - Không, Phàm - Thánh... thì sức sống của tự tánh hiện tiền, mới thấy diệu dụng không nghĩ nghì.

-   Ngài khuyên: Không nhằm trên sắc không, tánh tướng để bàn. Bởi như thế cũng là chuyện bên ngoài, chỉ thêm mê. Vấn đề là khéo xoay lại nhận tự tánh, là việc chính. Và đây cũng chính là diệu chỉ Bát Nhã mà đức Phật muốn chỉ bày, chứ không phải luận bàn trên Tướng không hay Tánh không.

(Tham khảo thêm “Câu số 24: Tướng không của các pháp có liên hệ gì tâm mình mà khi đạt được thì qua hết thảy khổ ách?”)

Câu số 29: Tại sao phải “Vì không có chỗ được” (vô sở đắc) thì “Bồ-tát mới nương được Bát-nhã để đạt đến đạo quả Vô thượng Bồ-đề”?

Đáp:

1. Phải vô sở đắc, mới tiến đạo

  • Sở đắc bên ngoài: Không mong cầu, không thấy có sở đắc khi tu, khi làm việc và trong cuộc sống. Bởi nếu có sở đắc, sẽ có bản ngã. Cả hai (sở đắc và bản ngã) sẽ làm chướng ngại cuộc sống và quá trình tu tập.
  • Tướng trạng công phu: Khi công phu có những điềm lành, hay những điều khiến kinh sợ; hoặc thấy các tướng lạ như ánh sáng, hào quang... thì không được chấp vào đó rồi sanh sợ hãi, hoặc mừng rỡ cho là đã chứng đắc. Nếu chấp, sẽ sanh bệnh, có cơ hội cho ma phá. Hành giả chỉ sáng lại tánh mình, xem tất cả đều là tướng bên ngoài nên huyễn hóa, không thật. Không can thiệp trên chúng, không sanh tâm gì thêm thì tất cả đều tốt, không bị chướng ngại.
  • Tâm chứng: Không lập phần hạn trong tâm, rồi chấp vào đó cho là sở chứng. Cũng không thấy có một tâm tánh chứng đắc là như thế nào đó. Bởi thật chứng là nhận lại chính mình, không có gì được gọi là đắc. Phải vô tướng, sáng ngời, ngay đó trả lại tánh mình, mới thật được. Nếu được cái bên ngoài, đều là huyễn hóa, không phải Phật đạo.

& DẪN CHỨNG

  • Kinh Kim Cang, đức Phật khẳng định: “Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật.”[10]Ngài đã phá chấp tất cả tướng cho hành giả nhận lại Tánh thể Kim Cang Bát-nhã. Cụ thể:

-    Ngài phá tất cả tình chấp trên các tướng của tâm, của các pháp, cho đến tướng của pháp thành Vô thượng Bồ-đề. Có như thế thì mới thành Phật được.

-   Đức Phật nói: “Như thế, như thế! Tu-bồ-đề, thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề! Nếu có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đức Phật Nhiên Đăng ắt không thọ ký cho ta: Ở đời sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni.”[11] Cho thấy, nhẫn đến pháp thành Phật cũng không được nhằm trong có và không để nhận hiểu.

-   Khi không thấy có pháp Vô thượng Bồ-đề, tất cả đều không thể được thì Tánh thể Bát-nhã hiện tiền. Đến như pháp Vô thượng Bồ-đề cũng phải “Không thấy có một pháp Vô thượng Bồ-đề là như thế nào đó”, mới thể hội pháp ấy. Còn thấy có một pháp để thành Phật là nhằm trên tướng để thấy biết, chưa rời tướng trước, công phu đã bị sai lệch, không tỏ chánh nhân vô sanh thì không thể thành Phật được, cho nên Phật Nhiên Đăng sẽ không thọ ký.

  • Nếu vậy, đức Phật thành tựu viên mãn Bồ-đề thì sao? Là thành pháp gì?

-   Đức Phật nói: “Này Tu-bồ-đề! Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ở trong ấy không thật không hư.”[12] Nghĩa là vượt thoát hai bên: Thật – Hư, Thành – Không thành, Phật – Chúng sanh... Khi không kẹt trong hai bên thì tâm tự vắng bặt, Tánh thể Bát-nhã hiện tiền.

-   Ngài nói tiếp, khi ấy sẽ hay ra: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.”[13] (Như Lai là không từ đâu đến, cũng không đi đâu, nên gọi là Như Lai.) Tức tâm tánh bàng bạc, vô tướng, trùm khắp, sáng ngời. Khi đó, nhìn các pháp, tất cả rạng ngời, lặng trong. Đó cũng chính là chỗ Quốc sư Thông Biện, Việt Nam nói: “Thường trụ thế gian, không sanh không diệt gọi là Phật.”[14]

-   Đức Phật nói tiếp, lúc này sẽ thấy rõ: “Tất cả pháp đều là Phật pháp.”[15]Như vậy, tất cả đã hiện bày rõ ràng, còn có cái gì khác để tìm mà bảo là phải được gì đó! Như thế mới là thật được, bởi không mất. Và từ nay chắc chắn sẽ thành Phật. Còn được gì đó, là được cái bên ngoài, không phải thật mình, không phải thật được.

  • Tóm lại: Qua đây cho chúng ta thấy, đức Phật khẳng định thành đạo là thành tựu viên mãn bản tâm giác sáng chính mình, không phải thành tựu cái gì khác. Cụ thể:

-   Khi tất cả đều vô sở đắc, liền đó trả lại Tánh thể Bát-nhã chính mình. Lúc này sẽ thấy rõ “Tất cả pháp đều là Phật pháp”, “Phật pháp là tất cả đang hiện thành”.

-   Y đây mà tu hành, sẽ thành Phật.

2. Khi vô sở đắc, mới nương được Bát-nhã

-   Khi toàn thể đều “bất khả đắc”, sẽ rỗng rang, sáng rỡ.

-   Liền đó trả lại Tánh thể Bát-nhã chính mình (hiện tiền).

Tức đã nương Bát-nhã, sống bằng Bát-nhã:Bởi,thực sự nương được, tức phải sống bằng Trí tánh Bát-nhã. Nếu có sở đắc thì bị chướng ngại, không thể sống bằng Tánh thể Bát-nhã. Cho nên, không sở đắc, liền trở lại Tánh thể Bát-nhã, tức gọi là nương.

3. Phải nương Bát-nhã, mới thành Phật

-   Phải sống bằng Thể tánh Bát-nhã vô sanh ấy mới thành tựu quả vị vô sanh (thành Phật).

-   Là nghĩa: Bồ-tát y theo Bát-nhã mà được Vô thượng Bồ-đề.

Câu số 30: Bát Nhã đã nói tất cả không, vậy tại sao Bồ-tát còn nương Bát-nhã và còn có đạt đến cứu cánh Niết-bàn? (Tức là, lẽ ra phải không hết tất cả luôn mới phải.)

Đáp:

1. Bồ-tát nương theo Bát-nhã ba-la-mật-đa

-   Nói là nương đó, chẳng phải là có chỗ nương.

-   Khi hay không (sạch) hết tất cả, thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.

-   Sống bằng Thể tánh Bát-nhã đó, cho nên tạm gọi là nương.

Đó là nghĩa: “Bồ-tát nương theo Bát-nhã ba-la-mật-đa…”

2. Đạt đến cứu cánh Niết-bàn

-   Khi đã sạch hết tất cả, tâm lặng trong, cảnh vắng bặt. Có tiếng liền nghe, đối cảnh liền biết, không động nhưng linh thông chủ động. Ngay đây, chỗ này, Tánh thể hiện tiền, muốn không cũng không được.

-   Đây gọi là Tánh tịnh Niết-bàn, Vô trụ xứ Niết-bàn (khắp nơi đều là Niết-bàn).

-   Sống ngay đây là tu hành. Công viên quả mãn, viên thành Phật đạo.

-   Cho nên nói: “Đạt đến cứu cánh Niết-bàn” là vậy.

3. Tóm lại

-   Khi sạch hết tất cả, kể cả khái niệm cho rằng, phải “Không nương Bát-nhã, không đạt Niết-bàn” như vừa hỏi cũng phải sạch luôn thì Thể tánh Bát-nhã hiển hiện, rành rẽ, rõ ràng.

-    Cứ thử buông xuống sạch đi xem thế nào. Liền biết! 



[1] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 16: Thiền tông Trung Hoa 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2015, tr. 469.

[2] Thích Nữ Thuần Bạch (dịch), Giới thiệu thiền tông Nhật Bản, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2014, tr. 91.

[3] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 31: Hành trạng Thiền sư 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 538.

[4] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 31: Hành trạng Thiền sư 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 249.

[5] 道原編,《景德傳燈錄》卷 22:「老僧三十年前未參禪時,見山是山,見水是水;及至後來,親見知識,有個入處,見山不是山,見水不是水;而今得個躰歇處,依前見山只是山,見水只是水。」(CBETA, T51, no. 2076, p. 446a21-24)。 (Đạo Nguyên soạn, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 22, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 51.)

[6] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 31: Hành trạng Thiền sư 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 557.

[7] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 31: Hành trạng Thiền sư 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 334.

[8] 慧達撰,《肇論疏》卷 1:「知其然,而不知其所以然者,不思議之義也。」(CBETA, X54, no. 870, p. 162b16-17)。 (Huệ Đạt soạn, Triệu Luận Sớ, quyển 1, Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 54.)

[9] 宗寶編,《六祖大師法寶壇經》卷 1〈般若品第二〉:「善知識!須知自性本有般若之智,自用智慧常照,不假文字。」(CBETA, T48, no. 2008, p. 348c25-27)。 (Tông Bảo soạn, Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh, quyển 1, Phẩm "Bát Nhã" thứ hai.)

[10] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 157.

[11] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 184.

[12] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 184.

[13] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 245.

[14] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 35, Hành trạng Thiền sư 6, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 254.

[15] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 184.

 

 

 

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

4331696
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
142
5404
142
4306146
75278
237145
4331696