Thứ Bảy 22/8/2026 -- 10/7/2026 (Âm lịch) -- 2570 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Bát Nhã Dạy Gì (3): Phần 01: Tổng Quan - Mục II: Cái Thấy Bát Nhã

CÁI THẤY BÁT-NHÃ

Bài trước (Khái quát chung – Khéo nhận) là đề cập đến trình độ từ phàm mê loạn động sanh diệt, nhận giả làm chân; nhờ đủ duyên nghe Bát Nhã, biết cái gì là giả, cái gì là thật để lìa giả trở lại chân. Sau đó khéo tu tập để nhận lại Trí tuệ Bát-nhã. Từ đó biết các pháp như thật, không động. Đây tạm gọi là chiều đi vào. Đến bài này sẽ nói rõ về công phu từ Trí tuệ Bát-nhã để sống và thấy biết tất cả. Cho nên gọi là “Cái thấy Bát-nhã”; tạm gọi là chiều đi ra, từ Trí tuệ Bát-nhã mà lưu xuất ra tất cả. 

1. CÁI THẤY BÁT-NHÃ – TỪ TRÍ TUỆ BÁT-NHÃ ĐỂ THẤY BIẾT

1.1. Cái thấy Bát-nhã

  • Không phải tìm thấy và nhận bên ngoài

Tức là không phải nhằm trên lý Sắc – Không để tìm đại đạo. Không phải thấy trên thân tâm sanh diệt (năm uẩn) là giả hay thật. Không phải thấy trên các cảnh (sáu trần) là có hay không. Không nhằm trên các pháp phương tiện Phật dạy để tìm thấy biết. Cũng không thấy có sở đắc để chấp thủ, vô tình biến thành tướng của tâm. Nói chung, không nhằm vào bất cứ gì bên ngoài để thấy biết; tức không thấy biết theo tướng. Nếu tìm trên tướng, đồng nghĩa đã bỏ sót tự tánh, mê tâm, dẫn đến sai lầm và phải chịu các khổ não.

  • Không phải bằng ý thức phân biệt để thấy biết

Không bằng tâm mê, không giác sáng để đọc học và tu tập Bát Nhã. Cũng không phải bằng ý thức để thấy biết phân biệt các pháp theo nghĩa lý Phật dạy. Vì như thế sẽ không học đến được chỗ cứu cánh, không hiểu đến được cốt lõi diệu chỉ uyên nguyên, không thấy ra chỗ yếu diệu mà Phật muốn chỉ bày cho chúng ta.

  • Phải từ Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh rộng lớn để thấy biết tất cả

Phải khéo nhận lại trí tuệ rốt ráo này (tự tánh) để từ đó thấy biết tất cả. Lúc này, tất cả trở nên trong lặng, rạng ngời; thấy biết tất cả nhưng vẫn không động, vô tướng và linh thông, tự tại.

Tóm lại, phải từ Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh rộng lớn để thấy biết thì rõ ràng Sắc – Không, nhưng vẫn vô tướng trong tâm, đạt đến “như huyễn tam-muội”; tức rõ mọi thứ như huyễn mà vẫn ở trong tự tánh chánh định chính mình, chứ không phải có tướng phân biệt. Chính cái thấy biết này mới đầy đủ diệu lực cho hành giả tự tại, vượt thoát tất cả khổ ách (như văn kinh).

1.2. Minh định

Đệ tử Pháp Dung hỏi Tăng thống Khánh Hỷ (Việt Nam): - Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?[6]

Ở đây ý câu hỏi là: “Khi một hành giả liễu đạt lý Sắc – Không rồi thì ngay sắc thân này, nó là Phàm hay là Thánh?” Tương tự trong Kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Không lấy ba mươi hai tướng để thấy Như Lai... Lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật.”[7] Vậy thì sắc thân ba mươi hai tướng Phật đang thị hiện đó là ai? Phải thấy Ngài như thế nào?

Sư ứng thanh đáp bài kệ: 

  Dịch nghĩa:

Uổng công thôi hỏi sắc cùng không,

Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông.

Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy,

Thế gian trồng quế đâu thành rừng.

Đầu lông trùm cả càn khôn thảy,

Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong.

Đại dụng hiện tiền tay nắm vững,

Ai phân phàm thánh với tây đông.

 Uổng công thôi hỏi sắc cùng không: 

Thiền sư Khánh Hỷ nói, nếu đi hỏi Sắc – Không, tìm hiểu thân này là Phàm hay Thánh thì chỉ uổng công. Dừng lại, đừng tìm hiểu như vậy, sẽ vô ích. Bởi nếu còn nghi và hỏi về Sắc – Không là còn nằm trong “khái niệm của sắc và không”, còn nhằm trên sắc và không để tìm hiểu. Quả thực, chưa khéo nhận Tánh thể Bát-nhã. Hiểu như thế không có diệu lực để qua được khổ ách, không có tác dụng. Vậy phải như thế nào mới đúng? Ngài nói:

  • Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông:

Ngài dạy người học đạo không gì hơn là phải quay về nhận lại chỗ mà Tổ tông đang sống, là chỗ mà Tổ tông muốn chỉ, cũng chính là bản tâm, Tánh thể Bát-nhã nơi mỗi người, là diệu chỉ đức Phật khai thị. Đừng quan tâm trên sắc và không, không đặt nặng thân này là Phàm hay Thánh. Bởi như thế chỉ là kẹt tâm, chấp tướng, mê tự tánh, không thể ngộ ra. Hãy nhận thẳng sức sống Tổ tông đang hiển hiện trước mặt, ngay đây sáng ngời, liền tự tỏ suốt Sắc – Không rõ ràng, trong lặng. Ngay đó, tự biết suốt sắc thân này là Phàm hay Thánh! Nó không nằm trong khái niệm ấy, hoặc bất kỳ quan điểm hay tướng trạng nào. Ngay tướng cũng là tánh, tánh tướng thường trụ. Tất cả chỉ là sự hiển hiện rạng ngời như thế, không ở trong niệm lự, tư duy, phân biệt là Thánh hay Phàm. Thích tìm tòi xét xem lúc này là Phàm hay Thánh, đó là cách tìm cầu, muốn hiểu biết của người còn ở trong thức phân biệt của mê. Cái thức này nó bảo chúng ta muốn tìm hiểu và chỉ hiểu biết theo phương cách như thế, không có gì khác hơn.

  • Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy;Thế gian trồng quế đâu thành rừng:

Đi hỏi Sắc – Không, tìm hiểu sắc thân là Phàm hay Thánh... chẳng khác nào nhằm bên ngoài trời để tìm bản tâm ấy. Như vậy sẽ không bao giờ được, càng tìm càng xa. Giống như người trồng quế mà muốn thành rừng rậm, không thể được. Vì cây quế lên thẳng, ít cành và tuổi thọ ngắn nên không thể thành rừng rậm rạp như các loài cây khác. Phải khéo quay về “Vấn Tổ Tông”, nhận lại tự tánh, sẽ có đại dụng. Ngài đã ví dụ đại dụng này qua hai câu tiếp theo.

  • Đầu lông trùm cả càn khôn thảy; Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong:

Càn khôn: chỉ cho đất trời, thế giới. Nhật nguyệt: chỉ cho mặt trời, mặt trăng, vũ trụ. Nghĩa là tột cùng đất trời, thế giới chỉ nằm trên đầu một sợi lông. Gom hết vũ trụ chỉ thâu gọn trong một hạt cải. Đây là ví dụ cho diệu dụng bất khả tư nghì của bậc ngộ tâm. Cụ thể, không kẹt các tướng thì tâm tự lưu thông cho nên “Lớn” và “Nhỏ” không ngăn ngại nhau. Tùy thời, tùy duyên hiện bày tất cả nhưng vẫn tự tại vô ngại. Người đạt ngộ tự tâm sẽ có đại cơ đại dụng như vậy và Ngài cũng khẳng định lại điều này ở hai câu cuối.

  • Đại dụng hiện tiền tay nắm vững; Ai phân phàm thánh với tây đông:

Đạt ngộ tự tánh, đại dụng hiện tiền. Sống bằng tánh giác sáng không tướng, tâm ta cùng tánh pháp giới vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một pháp giới tánh kia; mà khi tâm không thì cảnh tịch, tâm cảnh nhất như sẽ thấy biết vượt Năng – Sở, Có – Không, Đông – Tây, Lớn – Nhỏ. Cho nên các tướng không đến kịp, lớn và nhỏ cho đến tất cả các tướng đều hiển hiện trong tánh mình bàng bạc, rạng ngời, không hề ngăn ngại nhau. Năng sở đã bặt, còn ai trong đó mà phân biệt là Phàm với Thánh, Đông với Tây? (Ngài nói: “Ai phân phàm thánh với tây đông”.) Đến đây rồi thì nắm cả đất trời để trên đầu một sợi lông, gom hết vũ trụ nhét vào trong một hạt cải. Cho thấy, đạo là lưu thông, tự tại, không ngăn ngại.

Ngay đây, nếu vừa tần ngần hỏi tại sao thì liền đó đã rơi vào tướng, mất đại dụng, không thể hiểu. Bặt cả tướng và tâm, mình và cảnh thì tất cả đang hiện bày, không gì ngăn ngại được. Cho nên thấy ra “Tam Thân Phật” (Pháp thân, Ứng hóa thân, Báo thân) chẳng phải một, chẳng phải khác, mà “Tất cả hiện thành”.

Vậy khi ngộ Bát-nhã thì thấy thân này thế nào?

Ở đây, Tăng hỏi Ngài Khánh Hỷ: “Lúc này, sắc thân là Phàm hay Thánh?”Tổ đức nói: “Tướng có đến đi, thể thường vắng lặng (không đi đến).” Nếu người học không khéo nhận thì sẽ thấy “Tánh – Tướng” khác nhau (có một thể tánh thường vắng lặng và có một tướng hay đến đi). Nhưng thực tế, thân tâm có liên quan mật thiết với nhau. Kể cả đã sáng tánh này, tánh ấy không phải bốn đại năm uẩn, nhưng cũng không rời khác năm uẩn bốn đại[8]. Trong một con người không thể có hai cái sai khác mà phải dung thông, tương tức trong nhau.Vậy thì tương tức thế nào, dung thông ở đâu? Ngay đây, đừng thèm khởi phân biệt, trả lại bản thể chính mình thì toàn tâm là tánh. Lúc này, ngay mỗi mỗi tướng, tánh này bàng bạc hiển bày; tức tướng, tức tánh, tánh tướng thường trụ, bặt cả trong ngoài, xưa nay. Dù có hiện tướng đến đi mà tất cả vẫn lặng trong, sáng ngời, chưa từng động. Trong tâm không thấy có tướng di chuyển, đổi dời. Như áng mây ngang trời, tự tại bay. Không ngoài nhau, không ngăn ngại nhau, không can hệ hay dính dáng gì bầu trời.

1.3. Đúc kết

Ngay sắc thân này, nếu không có tâm (không có sự nhận biết) thì đồng với cây đá. Tự nó không nói (không có khái niệm) là Phàm hay Thánh gì cả. Cũng ngay sắc thân này, với người mê, tham chấp nó cho nên có ra các lậu hoặc, sai lầm khác… nên gọi là Phàm, sẽ nhằm trên sắc không để thấy biết và chỉ có thể thấy là Sắc hoặc Không. Nhưng với người đã liễu đạt Sắc – Không, tâm cảnh nhất như, biết suốt (Vô sở bất tri), nhưng không còn phân biệt (Bát-nhã vô tri). Do đó nói, Bát-nhã không biết (Vô tri, không khởi phân biệt), nhưng không gì mà chẳng biết (Vô sở bất tri). Tức không chỗ nào mà tánh sáng biết này không đến kịp. Không cần phân biệt, thấy liền biết, đâu có thiếu vắng bao giờ. Lúc này, nhìn núi sông là núi sông, cây đá là cây đá, sắc thân là sắc thân... thấy biết như thị, sáng ngời. Đâu còn thấy hai, thấy khác mà bảo là Phàm hay Thánh?

Nói là Phàm hoặc Thánh đều là cái thấy của người còn mê, nhằm trên tướng để thấy biết phân biệt, không phải cái thấy của hành giả đã liễu đạt Sắc – Không. Còn cố đem tâm để hiểu như thế nào đó thì không thể hiểu đến được. Cho nên phải khéo tu, khéo thầm nhận.

Tóm lại, bằng cái thấy biết Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh để thấy biết ra tất cả như thị, tự tại thì đây là cái thấy Bát-nhã, đầy đủ, trọn vẹn và rốt ráo.

2. TU TẬP TỪ CÁI THẤY BÁT-NHÃ

2.1. Khái quát

Từ Trí tuệ Bát-nhã (cái thấy Bát-nhã) để thấy biết thì sẽ thấy rõ tất cả như huyễn, nhưng vẫn như thị, tự tại. Từ thấy biết đó để dụng công gọi là “tu tập từ cái thấy Bát-nhã”.

Học và tu tập Bát Nhã tựu trung nằm trong hai phương diện (hai hướng). Từ hai phương diện đó hình thành nên trình độ tu học. Cũng từ đó mà đưa đến kết quả khác nhau. Người học hãy chọn hướng đi mang lại kết quả khả quan chứ không thể chọn một hướng mà kết quả không đến đâu cả.

*Hướng thứ nhất: Từ bên ngoài thâm nhập vào tự tánh

Bên ngoài là chưa ngộ, còn mê lầm. Từ đó học hiểu nghĩa lý Bát Nhã, thấy các pháp như huyễn để rồi nhận lại tánh chân.

*Hướng thứ hai: Từ Trí tuệ Bát-nhã để lưu xuất thấy biết

Trên cơ sở đã ngộ (hoặc thầm nhận Tánh thể Bát-nhã, hoặc thông suốt diệu lý Bát Nhã) để thấy biết năm uẩn, tất cả các pháp đều không thì cái thấy biết này hoặc là rỗng lặng - không tịch; hoặc là linh thông - tự tại, chủ động vẫn bất động… tùy theo trình độ đã ngộ sâu hay cạn. (Sẽ nói rõ tại phần tiếp theo.)

2.2. Tu tập từ cái thấy Bát-nhã

Căn cứ vào trình độ thể nhận Bát-nhã để khéo ứng dụng tu tập “Từ cái thấy Bát-nhã”. Tất cả phải được đặt trên nền tảng Trí tuệ Bát-nhã. Mỗi mỗi đều được lưu xuất từ Bát-nhã như vậy thì dụng công sẽ có lực, tu hành mới đắc lực.

  • Trình độ 1 - Trực ngộ (đại ngộ):Đức Phật vừa thăng tòa, chưa nói gì, liền trực ngộ: Tánh ấy đã sẵn đủ. Đây là đại ngộ, có lực dụng bất khả tư nghì.
  • Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể, tâm tánh vốn sẵn nơi mỗi người. Hành giả dụng công đúng pháp, khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ, không qua phương tiện hay học hiểu.

  • Chiều từ trong ra: Khi đã ngộ rồi thì tất cả được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Hành giả lúc này đầy đủ đức dụng, thấy biết như thị nhưng linh thông đến chủ động, vẫn bất động, đạt đến diệu dụng bất khả tư nghì. Lúc này, quý Ngài có diệu dụng tùy thời hoặc phá, hoặc dựng lập để đưa hành giả trở lại tự tâm. Cụ thể, cái mà chúng ta đang chấp là có, các Ngài sẽ có cách để làm cho tất cả tình chấp bỗng dưng rơi rụng. Cứ thế, quý Ngài sẽ tùy thời phá (từ có thành không), hoặc dựng lập nên (từ không thành có, gọi là sắc) không thể nghĩ lường, để tình thức không đến kịp, bất ngờ đẩy người học trở lại tâm mình. Quý Ngài hay tự tại ra vào tất cả, nhưng tâm vẫn không thấy tướng ra vào. Đây là diệu lực của bậc thượng thừa có đại cơ đại dụng.

  • Trình độ 2 - Trực nhận: Đức Phật vừa gợi ý (nêu tựa kinh) hoặc nêu nội dung tổng quát (mở đề), hành giả liền sực nhận, hay ra. Đây là đốn ngộ (chóng ngộ, thẳng đó liền ngộ, vượt không gian và thời gian).
  • Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể, hành giả có công phu đúng pháp, tương ưng, chín muồi cho nên vừa khơi, liền thẳng vào, trực nhận, bất ngờ hoát toang thông thống. Điền địa này cũng ngộ bản tâm, nhưng lực dụng không bằng trực ngộ (đại ngộ) ở trên.

  • Chiều từ trong ra: Khi đã trực nhận thì tất cả được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Hành giả lúc này bảo nhậm, sống thẳng bằng Tánh thể Bát-nhã, thấy năm uẩn và tất cả các pháp đều rỗng lặng, rờ rỡ. Sẽ hay ra tất cả đã sẵn vậy, không động, sáng ngời.

  • Trình độ 3 – Thầm nhận: Hành giả khéo thầm nhận lại, thầm thầm sống khế hợp tâm tánh. Chữ “thầm thầm” nghĩa là khéo không tướng, không dấu vết mà không mê, ngay đó tâm mình lặng sáng, tự khế hợp. Chỉ cần bình thường (để không tạo nên dấu vết), thơ thới, trở lại tâm, không tạo tác thêm gì; ngay đó không tướng mà không mê thì tâm tự sáng biết, chứ đừng lập thêm gì cả. Tuy lực dụng không mạnh như hai bậc trên, nhưng nếu khéo thầm nhận như vậy thì thầm thầm khế hợp và tâm tánh tự hiện bày một cách nhẹ nhàng, tất cả rõ ràng, rờ rỡ. Theo thời gian, công phu sẽ đắc lực, mạnh lên. Cụ thể ở trình độ này, nghe Phật nói rộng, phân tích rõ nghĩa lý, hành giả soi lại nơi mình, thầm nhận rồi bảo nhậm. 
  • Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể hành giả không dừng kẹt trên chữ nghĩa, luôn hướng tánh để dụng công. Khi công phu thuần thục, chín muồi, nghe nói, liền khéo thầm nhận.

  • Chiều từ trong ra: Khi đã thầm nhận thì công phu được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Lúc này, hành giả phải luôn luôn giữ gìn miên mật, không chủ quan, bất giác. Luôn sẵn một Tánh thể Bát-nhã để thấy biết. Như thế, tất cả tự vắng lặng, sáng ngời, lạc an, tu là vui nhẹ, thênh thang.

  • Trình độ 4 - Tu tập dần, mới nhận: Nghe nói, học hiểu, thông suốt văn kinh rồi ứng dụng tu tập chiếu kiến năm uẩn, các pháp đều không. Cứ thế liên tục, theo thời gian công phu thuần thục, đắc lực, sẽ nhận lại Tánh thể Bát-nhã.
  • Chiều từ ngoài vào: Tức còn mê và động, tiến đến thể nhập Bát-nhã.

Cụ thể: Từ chấp các pháp là thật, hành giả học hiểu, thông suốt nghĩa lý để ứng dụng tu hành bằng cách hướng tánh dụng công, không dừng trụ hoặc trôi trên chữ nghĩa. Dám tin chắc, quyết chí với công phu như vậy thì trải qua thời gian công phu sẽ thuần thục, chín muồi, rồi cũng nhận ra.

  • Chiều từ trong ra: Tất cả được lưu xuất từ Trí tuệ Bát-nhã.

Hành giả tu tập khéo hướng tánh để dụng công. Đọc học, kê cứu… mỗi mỗi xoay lại tánh mình. Trong sinh hoạt, hành giả luôn sẵn một tâm giác sáng trên tất cả động dụng thi vi. Lúc này, tâm tự lặng an, định lực tăng, giúp hành giả làm chủ thân tâm, không bị các pháp chi phối. Công phu như vậy sẽ đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ (đại ngộ).

  • Tóm lại
  • Phải từ Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết tất cả

Tất cả động dụng thi vi phải được đặt trên nền tảng Trí tuệ Bát-nhã. Phải từ Trí tánh Bát-nhã nơi chính mình để thấy biết, sống, làm việc, sinh hoạt, nói năng, ứng xử... Tức mỗi mỗi phải từ trong ấy để lưu xuất. Dụng công như thế thì mới có lực, mới tiến bộ.

  • Nếu khác đi

Chỉ là tạo tác lòng vòng bên ngoài, chưa rời loạn động sanh diệt, vẫn còn mê lầm, không sáng. Tu hành như thế sẽ vô lực, không có cơ sở sáng tâm, không thể hết khổ sanh tử.

3. KẾT LUẬN

Sống là sự đối diện, nhận diện và thấy biết tất cả. Chỉ khác là bằng vào đâu để thấy biết. Từ chân tâm, hay mê vọng? Trọng tâm đang đề cập là “Thấy biết Bát-nhã”, tức phải từ chân tâm mà thấy biết, không thể mê vọng. Thấy biết như thế, ngay đó, sống là tu. Sinh hoạt và tu tập không ngoài nhau, không khác.

   “Cái thấy Bát-nhã” chính là từ Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết tất cả đúng như thật, chứ không phải can thiệp trên cảnh hay tìm tướng và thấy biết theo tướng của Sắc – Không. Theo thời gian, công phu sẽ đắc lực, suốt tột, viên dung, đạt đến rốt ráo. Cụ thể, thấy biết tất cả như huyễn nhưng không động, tự tại, linh thông, bất khả tư nghì, vượt Năng – Sở, Căn – Cảnh, thoát Có – Không, không nằm trong tánh tướng.

   Tùy vào trình độ thâm nhập mà có cái thấy sâu cạn không đồng. Đơn cử qua bốn nhóm trình độ căn bản vừa nêu trên.

   Hành giả hạ thủ công phu tu tập, phải bằng vào Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết, để sống thì mới có hiệu lực giác ngộ giải thoát. Nếu khác đi, sẽ rơi vào loạn động sanh diệt, mê lầm, luống chịu các khổ đau không đáng có. 

4. CÂU HỎI VẬN DỤNG - CỦNG CỐ

Câu hỏi 1: Kinh Lăng Nghiêm: “Một người trở về nguồn chân, mười phương hư không thảy đều tiêu mất.”[9] Xưa nay nhiều bậc Tổ đức đạt ngộ, nhưng núi sông quả đất vẫn hãy còn. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?

Gợi ý:

  • Trở về nguồn chân

Chính là hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa đạt đến rốt ráo. Cũng chính là đạt ngộ Trí thể Bát-nhã, trí tuệ cứu cánh rộng lớn, hay tâm tánh chính mình. Lúc này thấy biết như thị, vượt năng sở, tất cả tự lặng trong. Mọi thứ chỉ là sự hiển hiện trong tự tánh chánh định chính mình, vượt thoát Sắc – Không, Chân – Huyễn. Tất cả đều không can hệ, không đến kịp. Mười phương hư không cũng lặng trong sáng ngời như thế.

  • Mười phương hư không thảy đều tiêu mất

Tất cả khổ ách và các tướng đều lặng trong, vượt thoát, không nằm trong có và không, tức đã tiêu mất. Qua hết thảy khổ ách.

  • Lưu ý

Không nhằm trên Sắc – Không, Có – Không để bàn luận, hiểu biết. Điển hình như, đối với người cho mọi thứ là thật thì thấy tất cả hãy còn “Có”, và nó hoàn toàn “Không” với người biết huyễn, không thật. Thấy biết như thế không sai, nhưng vẫn còn trong Chân – Huyễn, Sắc – Không để bàn, chưa rời cảnh trước do đó chưa có lực tự tại. Đây là hành giả còn đang trên đường tu tập, chưa trở về nguồn chân rốt ráo.

Cuối cùng, hãy nói: “Còn núi sông quả đất mà vẫn không, hay phải dẹp hết tất cả, không còn gì, mới là tiêu mất?” Dè dặt! Đừng nhằm bên ngoài để bàn luận hiểu biết; cũng không phải hướng vào trong. Tâm mình khéo sạch tất cả, không mê thì trong ngoài suốt thông, mười phương hư không thảy đều tiêu mất. Mất đi đâu? Khéo sống về nguồn chân, sẽ tự rõ ràng tất cả.

Câu hỏi 2: Ngạn ngữ: Nước trong thì không có cá (không ai ở cùng tu với mình). Nước đục thì cá chết (ở với mình nhiều, chúng đông, nhưng sống trong mê mờ, loạn động, không tu, xem như chết). Phải sống như thế nào?

Gợi ý căn bản:

  • Có người bảo rằng “Phải sống trung đạo”

Vậy thì sống như thế nào là trung đạo? Ai cho mình biết được việc đó? Khả năng nào có đủ lực để giúp chúng ta sống đúng trung đạo? Phải trở lại cội nguồn tâm tánh chính mình mới có diệu lực để sống được, sẽ sáng ra tất cả.

  • Bài học hôm nay là từ Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết

Do đó tôn chỉ câu trả lời phải xuất phát điểm bằng Trí tuệ Bát-nhã, chứ không phải nhằm trên tướng để nghị luận, tìm hiểu. Vừa nghĩ “phải sống như thế nào đó?” là đã can thiệp trên hoàn cảnh “trong hay đục” bên ngoài; tức mê bản tâm, sẽ không tỏ sáng, không có lực. Do vậy, ở đây chúng ta cần sáng chân tâm, uyển chuyển làm sao tu cho được sáng chân tâm là tốt, trong hay đục không cố định.

  • Cụ thể:

Khi sáng chân tâm, từ chân tâm sẽ có diệu dụng, biết tùy thời, tùy cơ, lập bày phương tiện giáo hóa để người học được giác ngộ giải thoát. Không phải tùy thuận phàm tình để mê sâu trong sanh tử. Tóm lại, phải lấy chân tâm làm chính. Còn lại trong hay đục, chỉ là phương tiện, là việc tùy duyên, cho nên nó là huyễn, không quan trọng. Điểm chính yếu (cái bẫy ở đây là) không can thiệp nước trong, nước đục mà phải khéo nhận tâm, ở vào Trí tuệ Bát-nhã để thấy biết.

Gợi ý cụ thể: Chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề qua hai khía cạnh:

  • Thứ nhất, còn đang tu học:

Hành giả còn đang tu học thì phải tin tưởng vào vị Thầy hướng dẫn, tuân thủ theo Thanh quy và đường hướng tổ chức tu học của đại chúng. Một bề nhắm đến tiến đạo, sáng chân tâm; không quan ngại khó khăn, không mong thuận phàm tình hay vừa ý, không quản ngại trong hay đục.

Đối với trình độ này, nói theo Bát Nhã là thấy từ bên ngoài vào. Nghĩa là nương theo lời Phật dạy, thấu suốt huyễn chơn, khéo trở lại tánh chơn. Thấy rõ đục hay trong đều là huyễn, không quan trọng. Không quan tâm trên đó mà chỉ khéo đãi cát tìm vàng; ngay tất cả huyễn tướng, thể nhận tâm tánh chính mình.

  • Thứ hai, với vị Thầy hướng dẫn

Là vị Thầy có trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn cho đại chúng tu tập thì phải sáng chân tâm. Trên cơ sở đó, biết tạo môi trường trung đạo cho chúng tu tiến, được sáng bản tâm. Tùy thời lập trong, bày đục bất khả tư nghì để rèn luyện học nhơn tiến đạo. Như vậy trong hay đục hoàn toàn không dính dáng, không cần bàn.

Trình độ này, nói theo Bát Nhã là từ trong trí tuệ chân thật, lưu xuất thấy biết (từ Thực tướng Bát-nhã mà lưu xuất, thấy ra). Nghĩa là hành giả đã đạt ngộ Tánh thể Bát-nhã (trực ngộ hoặc tu rồi ngộ) thì tự thân sẽ thấy rõ huyễn chân, nhưng vô tướng, không động, như thị. Vượt thoát đục trong, tự tại vào đục ra trong, nhưng không tướng ra vào. Tùy thời hiện đục bày trong để giúp hành giả trực ngộ tự tánh.

 

 

 

 

[6] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 35: Hành trạng Thiền sư 6, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 294.

[7] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 157.

[8] Thiền sư Triệu Châu dạy chúng: “Khi chưa có thế giới, trước đã có tánh này, khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại”. Tăng hỏi: “Thế nào là tánh này?”. Sư bảo: “Tứ đại ngũ uẩn”. Tăng thưa: “Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tánh này?” Sư bảo: “Tứ đại ngũ uẩn”.

[9] 般剌密諦譯,《大佛頂首楞嚴經》卷 4:「一人發真歸元,十方虛空悉皆消殞。」(CBETA, T19, no. 945, p. 130c24-25)。 (Bát-lạt-mật-đế dịch, Đi Pht Đnh Th Lăng Nghiêm Kinh, quyển 4, Đi Chính Tân Tu Đi Tng Kinh, tập 19.)

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

3969058
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
2621
7697
30314
3906386
99183
146055
3969058