
TT.Thích Tâm Hạnh
Trong phạm vi bài viết này, sẽ không nêu các trình độ thể nhập đã được trình bày trong hai bài trước. Bởi nội dung các bài trước là đề cập đến điền địa (trình độ) bất ngờ thể hội. Và việc này hành giả phải khéo tự nhận lại nơi chính mình, không qua học hiểu, không có chỗ cho thức hiểu, không thể học hiểu đến được. Bởi học hiểu không được, phải khéo dụng công mới nhận ra, vì vậy không nêu ra ở đây. Đến đây (tức đến bài này), mới có chỗ cho học nhơn học hiểu và nắm bắt được. Do đó, để tựa đề “Trọng tâm Bát Nhã” tức là: “Trọng tâm Kinh Bát Nhã dạy chúng ta điều gì? Như thế nào?”
1. TRỌNG TÂM BÁT NHÃ CHỈ BÀY
Mở đầu Bát Nhã Tâm Kinh, đức Phật dạy: “Khi Bồ-tát Quán Tự Tại, hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.” Tức là: Dùng Trí tuệ Bát-nhã Chiếu kiến (Soi thấy) Năm uẩn đều không Liền qua hết thảy khổ ách.
Bồ-tát Quán Tự Tại đã tu hành như thế và thành tựu như thế. Đây là “Khẳng định tiêu chí” phải đạt đến kết quả này. Tức là dùng trí tuệ chân thật soi thấy năm uẩn đều không, phải “qua hết thảy khổ ách”. Cụ thể:
Là trí tuệ chân thật (sẵn đủ nơi mình, định tuệ đồng thời, lặng mà sáng biết, không động, không sanh diệt, không biến hoại), không phải trí tuệ còn trong tương đối, loạn động, sanh diệt (có tướng, còn động, bị chi phối bởi vô thường sanh diệt và dù đạt được trí này vẫn chưa hết khổ ách).
Ở đây có hai trình độ: Thứ nhất, nếu đang dụng công thì phải khéo nhận lại. Khéo ngay đây lặng an mà không mê thì tự nó “Sáng biết” chứ không phải “biết về” hay “biết theo” gì. Trí này tự thấy biết năm uẩn và tất cả rõ ràng, nhẹ thênh, lặng trong và không động. Thứ hai, là bậc đã ngộ thì tâm tự mất hút dấu vết, rờ rỡ, thấy biết như thị, vượt thoát căn cảnh hai bên; thấy biết năm uẩn cũng như thế.
Soi thấy: Cụ thể ở đây hành giả bằng tâm lặng sáng, thông suốt, vô tướng, không động, không phân biệt (chính là Trí tuệ Bát-nhã), thì tâm ấy tự sáng biết rõ ràng năm uẩn và tất cả các pháp đều huyễn hóa nhưng thanh tịnh, rỗng rang. Tất cả được hiển hiện trong tâm lặng sáng đó một cách rạng ngời. Tâm ấy tự sáng biết chứ không khởi cái biết để biết về bất cứ gì. Trí ấy tự thấy có mình, có cảnh, nhưng không khởi, nên không đặt thành tướng để phân chia Năng – Sở, Kia – Đây. Lúc này, tự vượt thoát tất cả, sáng ngời. Khéo chiếu kiến như vậy, năm uẩn và các pháp sẽ trở nên lặng trong, các khổ ách cũng vắng lặng.
Không phải quán chiếu: Bởi quán chiếu là còn “Tướng Động”, còn “Năng – Sở”, chưa phải trí tuệ cứu cánh (Trí tuệ Bát-nhã) như trong văn kinh.
Điển hình:
Tứ Tổ hỏi Ngài Ngưu Đầu Pháp Dung: - Ở trong núi làm gì?
Sư thưa: - Quán Tâm
Tổ hỏi: Quán đó là ai? Tâm là vật gì? Sư không đáp được.
Qua đối đáp, Sư bèn đảnh lễ xin Tổ chỉ dạy chỗ chân yếu.
Tổ chỉ dạy lý: - Tâm tức Phật.
Sư thưa: - Đã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm, làm sao đối trị?
Tổ dạy: - Cảnh duyên không có tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm. Nếu tâm chẳng gượng đặt tên, vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chơn tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tùy tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là pháp thân thường trụ, không có đổi thay.
Nghĩa là, tâm này đã sẵn sáng, lặng trong, biết khắp tự tại. Cảnh kia cũng không biết tư duy để tự nói là như thế nào cả. Chỉ do chúng ta phân biệt nên mới “sanh chuyện” và “ồn ào”. Khi tiếp duyên xúc cảnh, chỉ cần không “thèm” thêm gì trên đó thì tâm tự trả lại chính nó vốn sẵn như vậy, bàng bạc, mặc tình biết khắp. Nếu khởi quán hạnh để đối trị là đã rơi vào tướng, bị loạn động, kẹt trong sanh diệt. Cái sanh diệt loạn động sẽ không có diệu lực để giúp hành giả thoát khỏi sự chi phối của các cảnh duyên. Phải dùng cái vô sanh (tâm không sanh diệt), mới tiêu dung được cái sanh diệt. Khéo nhận ra và thực hành được như vậy thì “Pháp thân” bủa khắp, không ngăn ngại. Tất cả tự vượt thoát, đâu có gì trong đó để đối trị?
Tóm lại, phải khéo bằng Trí tuệ Bát-nhã để soi thấy thì “Thấy” mà không có cái “Tướng” được gọi là “Thấy”. Khéo lặng trong, tự sáng biết mà không khởi “Tướng mình đang thấy” và “Cảnh bị thấy”. Khéo bặt năng sở, dấu vết như vậy thì sẽ hằng sáng soi mà không động. Ở đây, nếu hành giả mới dụng công thì khéo lặng an, không mê, liền đó trí giác hiển hiện và tự sáng soi rõ ràng. Khi đã thuần thục thì tâm tự lặng an mà sáng rỡ. Thấy rõ “Mình” và “Pháp” rành rành, nhưng tự tại vượt thoát, không ở trong ta và người, căn và cảnh.
Tức thân tâm sanh diệt này đều không. Nếu chỉ nói năm uẩn đều không, vậy các pháp còn lại thì sao? Trong văn kinh Bát Nhã có liệt kê đầy đủ tại “Thân Bài”. Gồm vật chất (sáu trần), các pháp tu (Tứ đế, Thập nhị nhân duyên…), tâm thức (tâm sanh diệt, vô minh…), khái niệm về “Trí tuệ” cùng các “Sở đắc”… tất cả đều không. Đó là nói theo kinh, còn theo kinh nghiệm tu hành: “Một không thì tất cả đều không, một còn thì tất cả hãy còn”. Tức là, nếu năm uẩn thực sự đã không thì tất cả thảy đều không.
“Không” như thế nào? Một cách tổng quát, sống bằng trí tánh sẵn sáng, linh thông thì năm uẩn và tất cả các pháp trở nên rỗng lặng. Tâm không cảnh tịch, diệu lực trong ấy khiến cho tất cả đều không can hệ, không chạm đến được, liền qua hết thảy khổ ách. Tuy nhiên, tùy từng căn cơ, tùy vào công phu tu tập và sự thể nhập mà có nhiều trình độ thấy biết sâu hoặc cạn khác nhau. (Đã đề cập tại hai bài trước và sẽ nói rõ sau.)
Tức thoạt đó liền qua, không phải từ từ. Và qua là qua tất cả khổ ách, chứ không phải chỉ một phần. Bởi muốn qua tất cả khổ ách thì phải nhờ diệu lực của Trí tuệ Bát-nhã. Khi sống bằng “cái thật” này thì tất cả khổ ách tự mất giá trị chi phối, liền đó qua tất tần tật, không phải qua dần dần, từng phần. Cho nên thực sự là khi đã qua được tất cả khổ ách thì thẳng đó liền qua, không phải qua từ từ. Và qua là qua tất cả, chứ không phải chỉ một phần nào đó.
Chính là Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh, chân thật, không động nơi mỗi người. Bởi do không động, trí tự sáng, có diệu lực bất khả tư nghì, khiến cho tất cả tự không chạm đến được.
Phải dùng Trí tuệ Bát-nhã để tu tập thì mới có diệu lực. Nếu hành giả còn trong quá trình tu tập thì khéo dùng trí giác sáng, lặng trong (Trí tuệ Bát-nhã) để thấy biết các pháp. Một khi đã thuần thục, tâm tự lặng sáng, thấy rõ mình và pháp, nhưng như thị, không tướng phân biệt. Nhờ diệu lực của trí tánh mà các khổ tự lặng trong, chứ không phải đối trị. Và một khi đã thể ngộ, thâm nhập được Trí tuệ Bát-nhã thì tất cả tự không đến được. Trí này sáng tròn, tự vượt thoát tất cả nên nói “Qua hết thảy khổ ách”. Còn lại, các trình độ tu tập Bát Nhã đã được nêu cụ thể tại hai bài trước, ở đây không nhắc lại.
2. NHẬN THẲNG, CHIẾU KIẾN HAY QUÁN CHIẾU
Người tu Phật, ai cũng dùng Trí tuệ Bát-nhã để thấy rõ bản chất các pháp là huyễn hóa, không thật. Tuy nhiên, tùy vào trình độ căn cơ và sự nhìn nhận của mỗi hành giả mà có cách hành trì tu tập khác nhau. Trên cơ sở đó, hành giả ứng dụng Bát Nhã theo cách nào sẽ đưa đến kết quả tương ứng và hình thành nên sở trường công phu riêng của từng pháp ấy. Việc thể nhận Bát-nhã tuy có nhiều phương cách khác nhau, nhưng tựu trung nằm trong hai nhóm căn bản:
Việc tu tập, cơ bản có hai phương cách dụng công: Đó là “Chiếu kiến” hoặc “Quán chiếu”. Trong chiếu kiến, cũng có hai trình độ: “Khéo nhận thẳng” hoặc “Có dụng công tu tập”. Ở đây chỉ nêu khái quát tương đối. Vào nội dung bài viết sẽ nêu đầy đủ. Nếu nói một cách tóm tắt thì nội dung của mục này là : “Nhận thẳng, chiếu kiến hay quán chiếu”.
2.1. Nhận thẳng
Thẳng đó liền trực nhận Tánh thể Bát-nhã, không qua phương tiện thứ lớp hoặc học hiểu. Cụ thể qua Bát Nhã Tâm Kinh có hai khả năng:
2.2. Chiếu kiến
Hành giả khéo dùng Trí tuệ Bát-nhã để chiếu kiến. Tức là lúc này, dùng Trí tuệ Bát-nhã thông qua lời Phật dạy mà nhận biết, sau đó công phu chín muồi thì ngộ ra trí tuệ chân thật trọn vẹn nơi chính mình. Tùy vào cách dụng công mà có ra tối thiểu hai trình độ chiếu kiến khác nhau:
- Khéo nhận thẳng tự tánh giác sáng: Khéo tu trong vô tu (vô tướng). Có học, có tu, nhưng hướng tự tánh, vô tác, khéo nhận thẳng Tánh thể Bát-nhã, chứ không dụng công theo kiểu dẹp trừ tạo tác thành tướng của công phu, cũng không dừng lại ngang chỗ tìm hiểu trên chữ nghĩa. Cụ thể:
- Nghe hiểu nội dung Bát Nhã Tâm Kinh, khéo dùng trí tuệ rỗng lặng để soi thấu, suốt tột, thầm nhận thẳng tự tánh. Theo thời gian, công phu thuần thục, đắc lực thì bừng ngộ Tánh thể Bát-nhã.
- Vì nhận thẳng Tự tánh Bát-nhã chính mình như thế nên công phu này sẽ không trải qua Tánh không (Thuần tịnh) như hành giả dụng công mà có tướng dụng công, hàng phục dần vọng tâm phiền não, chưa khéo nhận thẳng tự tánh (như trình độ thứ hai – “Có dụng công” bên dưới).
Hành giả học hiểu hết bài kinh, sau đó khéo dùng trí tuệ chiếu kiến tu tập. Qua thời gian thì nhận tâm thanh tịnh, đạt được Thể tánh không, tiếp tục công phu rồi sau mới nhận ra trí tuệ cứu cánh. Sở dĩ phải trải qua như vậy là do dụng công, nhưng không khéo nhận thẳng tự tánh mà rơi vào tướng của tu tập như thế nào đó. Hoặc là thấy có tướng tu hành, hành giả thấy có tác dụng của dụng công, có làm gì đó được coi là có dụng công. Hoặc là an trú vào tâm thanh tịnh, nghĩa là thầm thầm an trú vào chỗ thanh tịnh đang có trong công phu. Cả hai cách dụng công này sẽ đưa hành giả đến tâm Thuần tịnh. Lúc này chưa ngộ tánh. Phải tiếp tục dụng công, tu tiến thêm mới ngộ.
Cùng là chiếu kiến, nhưng nếu hành giả khéo nhận thẳng tự tánh thì không trải qua bước chuyển tiếp của Thuần tịnh, tương ứng với trình độ một - “Khéo nhận thẳng tự tánh giác sáng”.
Nếu chiếu kiến rơi vào tướng của dụng công, chưa khéo nhận thẳng tự tánh thì phải trải qua Thuần tịnh, rồi mới ngộ, nên gọi là “Tu tập Bát Nhã”, chứ không phải “Nhận Thẳng”, tức là rơi vào trình độ hai – “Có dụng công”.
Là do không khéo dụng tâm nhận thẳng tự tánh mà tu tập có tướng dụng công và rơi vào chỗ Thuần tịnh. Cụ thể:
- Nếu tu tập có tướng dụng công và rơi vào chỗ Thuần tịnh thì quý Ngài cho rằng: “Chỉ mới đạt đến Thể tánh không mà chưa thấy tánh”.
- Nếu khéo dụng tâm “nhận thẳng tự tánh”, khi công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng ngộ thì đâu còn tánh nào khác mà bảo là chưa ngộ?
2.3. Quán chiếu
“Quán chiếu” là thấy có mình tu, có pháp để tu, có dụng công, có tướng dụng công... tất cả phương cách tu tập có tướng tạo tác. Cụ thể, hành giả đi theo con đường tiệm tu qua ba bước:
Văn tự Bát-nhã _ Quán chiếu Bát-nhã _ Thực tướng Bát-nhã
- Quán chiếu là còn thấy: Mình quán, Pháp quán (Bát-nhã) và Đối tượng cần để quán (các pháp). Còn đúng pháp Bát Nhã thì dùng trí tuệ để “Chiếu kiến”, tức là soi thấu, suốt tột và vắng bặt, mất hút các tướng thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.
- Điển hình như trước đã dẫn chứng: Tứ Tổ hỏi Ngài Ngưu Đầu Pháp Dung: “Quán đó là ai? Tâm là vật gì?” Sư không đáp được. Cho thấy còn quán chiếu, tức chưa ngộ tâm. Kết quả chỉ “Hiển Bày Chân Lý” nên Ngài Pháp Dung không đáp được.
- Thực tế: Đợi đến quán chiếu mới tu tiến thì tự cứu mình chưa xong. Và chưa thấy ai tu hành thành tựu rốt ráo Bát-nhã bằng con đường này (vì còn động, nên không có cơ sở thành tựu). Nếu đi bằng hướng này thì phải có lúc chuyển đến “Vô Tác” để khế “Tánh Thể Vô Sanh” mới nhận ra Tánh thể Bát-nhã và thành tựu viên mãn.
- Đó chỉ là pháp đối trị tạm thời, trị từng phần trên ngọn, không dứt sạch được bản ngã.
- Nếu chuyên tâm mạnh hơn thì đây là đi bằng con đường triệt tiêu bản ngã, phiền não, vọng niệm... Trường hợp này sẽ đưa đến hai tình huống:
- Đối với hành giả buổi đầu công phu, tuy có áp dụng quán chiếu Bát-nhã, nhưng đã có cái nhìn hướng tánh tu tập, không chấp vào pháp đối trị tạm thời này thì vẫn có khả năng thể nhận Thực tướng Bát-nhã khi công phu đắc lực, chín muồi.
Đây là do “Cái Nhìn Ban Đầu” và “Cách Dụng Công” như thế nào thì trong tâm tự đưa đến kết quả tương ứng quyết định như vậy. Không phải nằm trong quan niệm hay bất kỳ một sự quy ước nào cả.
3. ĐÚC KẾT Ý NGHĨA BÁT NHÃ CHỈ BÀY
3.1. Phương pháp cụ thể ứng dụng tu tập Bát Nhã là gì?
Dùng trí tuệ chân thật, soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách. Ở đây chỉ đề cập tới năm uẩn mà không đề cập các pháp khác bởi ba lý do căn bản:
3.2. Vì sao phải thấy năm uẩn và tất cả đều không?
Vì đó là sự thật. Bản chất nó là huyễn hóa, không thật nên nói là “Không”. Nhưng lại có người cho là thật, từ đó mê lầm và phải chịu các khổ não không đáng có, nên nói cho biết chúng đều là không, để dứt lầm mê. Tóm lại, muốn hết khổ, phải thấy đúng sự thật là bản chất của các pháp vốn không thật.
3.3. Dùng cái gì để thấy không?
Chính là Trí tuệ Bát-nhã (trí tuệ chân thật, rốt ráo). Phải bằng vào Trí tuệ Bát-nhã để dụng công, để thấy tất cả không thì mới có hiệu lực. (Đã nói rõ tại các mục trên.)
3.4. Dùng Trí tuệ Bát-nhã để thấy không như thế nào?
Dùng Trí tuệ Bát-nhã để chiếu kiến (soi thấy) chứ không phải quán chiếu. (Đã giải thích ở trên và sẽ nói rõ sau.)
3.5. Cụ thể: Thấy cái gì không?
Từ vật chất (thân tứ đại, vạn sự, vạn vật), đến tâm (suy nghĩ, cảm nhận, vô minh), cùng các phương pháp (Tứ đế, Thập nhị nhân duyên...) và tu chứng (sở đắc, dấu vết của tâm…) đều không. Tóm lại, tất cả đều không. Bởi hễ những gì có tướng đều huyễn hóa, không thật.
3.6. Các pháp là không, cụ thể như thế nào?
Tóm lại, các pháp đều không, không thật. Lưu ý: Ở đây chỉ nêu ra cho biết. Khi công phu, miễn thấy rõ các pháp đều không để nhận lại Tánh thể Bát-nhã là đủ. Không nhất thiết phải ứng dụng qua tất cả các bước này. Tức là thấy các pháp đều không, huyễn hóa, không thật để không theo chúng và nhận lại Tánh thể Bát-nhã chính mình; chứ không phải bàn hiểu quá nhiều về nghĩa lý không của các pháp, khiến sai lầm, đi xa trọng tâm, cốt tủy mà đức Phật muốn chỉ bày.
3.7. Thấy không để làm gì, đạt đến đâu?
Để qua tất cả khổ ách. Cụ thể, nếu đang còn tu thì tùy vào trí và lực ngang nào mà khổ ách bớt chi phối ngang ấy. Khi đã đạt đến rốt ráo tức trí lực đầy đủ thì qua tất cả khổ ách.
3.8. Diệu lực nào cho chúng ta vượt qua tất cả khổ ách?
Chính là Trí tuệ Bát-nhã(trí tuệ chân thật, rốt ráo). Trí này tự sáng (tức Tuệ), ngay tánh sáng biết muốn động cũng không được (tức Định). Như thế, Định Tuệ đồng thời, diệu lực bất khả tư nghì, tự vượt thoát tất cả, các khổ ách không đến được.
3.9. Nếu chưa trực ngộ sẽ thấy các pháp không và tiến bộ qua các bước căn bản như thế nào?
Dụng công đúng như vậy là đang sống bằng Trí tuệ Bát-nhã để soi thấy năm uẩn đều không. Cũng chính là đang dụng thẳng “Trí Tuệ Vô Sư” sẵn đủ nơi mỗi người. Nếu dùng “Trí Tuệ Hữu Sư” (hiểu biết phân biệt) để soi thấy thì trí này còn loạn động sanh diệt cho nên “Vô lực”, và không thể “Qua tất cả khổ ách” như văn kinh đề cập, đồng nghĩa tu chưa đúng lời Phật dạy.
3.10. Các giá trị lợi ích
3.11. Cách thể nhận Trí tuệ Bát-nhã: Có hai:
“Sắc” là chỉ cho tất cả các pháp “Có”; “Không” là chỉ cho sự vô thường biến hoại, huyễn hóa hoặc là “Không”. Chúng ta không dừng trụ, không can thiệp hoặc làm thêm bất cứ gì trên “Sắc” và “Không” thì liền đó trả lại tự tánh sáng ngời, ngay đó khế hợp trí tuệ cứu cánh rộng lớn mà đức Phật dạy. Đó cũng chính là ý nghĩa của hai câu cuối trong bài kệ mà Nguyên Phi Ỷ Lan đã trình Quốc Sư Thông Biện: “Sắc không câu bất quản, Phương đắc khế chân tông”[2]. Còn lại, việc thể nhận Trí tuệ Bát-nhã đã được nói rõ trong hai bài trước.
Dùng trí tuệ soi thấy các pháp đều không, theo một trong các phương pháp tại mục (3.6): Các pháp là không, cụ thể như thế nào? Và mục (3.9): Thấy không và tiến bộ qua các bước căn bản như thế nào? (Đã nêu trên.)
Tựu trung có hai lối cơ bản để thể nhận Thực tướng Bát-nhã: Nếu trực ngộ, khéo nhận thì sẽ đạt đến trí tuệ cứu cánh. Nếu tu và thể nhập dần mà không khéo thầm nhận tự tánh trong lúc công phu thì sẽ phải qua các bước chuyển tiếp. Cụ thể sẽ đạt được Tánh không (Thuần tịnh) rồi sau đó mới ngộ tánh.
Sự thực, tâm vốn vô tướng, dụng tâm thế nào thì sẽ đạt đến kết quả như vậy chứ không ai quy định phải vào cửa “Không”, rồi mới nhận “Ông chủ”. Nếu hành giả khéo dụng thẳng tâm mình, không chấp chỗ thanh tịnh thì sẽ đạt đến cứu cánh.
4. CÂU HỎI VẬN DỤNG - CỦNG CỐ
Câu hỏi 1: Dùng Trí Tuệ Hữu Sư hay Vô Sư để thấy năm uẩn đều không? Nếu trong trường hợp phải dùng Trí Tuệ Vô Sư, trong khi đó bản thân chưa nhận ra được thì phải làm sao? Có dùng Trí Tuệ Hữu Sư hay không?
Gợi ý:
Ở đây, chúng ta cần xác định rõ, việc “Thể nhận Bát-nhã” và “Tu tập Bát Nhã”. “Thể nhận” thì thẳng đó liền ngộ hoặc tu tập rồi sau mới ngộ. Còn “Tu tập” là hành giả còn đang trong quá trình dụng công, chưa ngộ nhập. Như vậy, “Tu tập” chỉ là một phần nhỏ trong phạm trù đề cập đến việc “Thể nhận Bát-nhã”.
Nếu đã thể ngộ thì không còn nói là dùng Trí Tuệ Hữu Sư hay Vô Sư. Bởi còn dùng trí này bỏ trí kia thì không phải là hành giả đã đạt ngộ. Hơn nữa, trí tuệ chúng ta chỉ có một, không có hai thực thể cùng tồn tại song song trong một con người. Nói là Vô Sư, vì lúc này trí tuệ đang ở ngay bản nguyên của nó, liễu biệt, sáng ngời, vô tướng và không động; trí ấy vốn đã sẵn vậy, không do học hiểu mà biết. Nhưng khi bất giác, rơi vào loạn động thì nó biến thể thành Trí Hữu Sư (phân biệt, loạn động, sanh diệt). Một khi hành giả đã ngộ nhập Trí tuệ Bát-nhã thì toàn tánh là Trí Tuệ Vô Sư, không còn sanh tướng hoặc rơi vào hai bên để so sánh, lấy bỏ. Và đặc biệt hơn là khi ở vào trí tuệ nguồn này, vẫn biết rành rẽ rõ ràng thế nào là Trí Tuệ Vô Sư, thế nào là Trí Tuệ Hữu Sư (khi bị biến thể) mà vẫn vô tướng, bất động, không phân biệt, linh thông, tự tại, diệu dụng bất tư nghì, để làm lợi ích chúng sanh.
Trong câu hỏi này đang đề cập đến hành giả còn trong quá trình tu tập, chứ không phải nhắc đến trình độ đã thể ngộ Trí tuệ Bát-nhã. Do đó, tạm phương tiện đề cập đến việc “dùng trí tuệ nào” để soi thấy (chiếu kiến) năm uẩn đều không?
Phải dùng Trí Tuệ Vô Sư. Khi tất cả đều bắt nguồn từ Trí tuệ Bát-nhã thì công phu mới đắc lực, mới có diệu lực vượt thoát tất cả. Như thế, mới đúng tiêu chí ở phần mở đề mà đức Phật đã nêu rõ. (Đã nói tại các mục trên.)
Không dùng Trí Tuệ Hữu Sư, bởi như thế sẽ rơi vào loạn động sanh diệt. Tất cả chỉ là một chữ “Bất”, hoặc chữ “Phi” để phủ định, khiến cho tâm thức không còn chỗ nương (không cho tâm thức có một chỗ nương để sanh khởi; cũng không có tướng dụng công hoặc kềm đè). Lúc này, thức dứt bặt, trả lại tánh tự sáng biết, vô tướng, không một vết mê. Ngay đó Trí tánh Bát-nhã hiện tiền.
Đây là đề cập đến việc vận dụng Trí tuệ Bát-nhã để tu tập trong khi chưa ngộ. Việc này đã được nêu rõ tại bài kế trước (Cái thấy Bát-nhã). Đồng thời, cũng vừa nêu ở trên trong bài này (mục “Trọng tâm Bát Nhã chỉ bày”). Cụ thể, phải dùng trí tuệ để soi thấy thì “Thấy” mà không có cái “Tướng” được gọi là “Thấy”. Khéo lặng trong, tự sáng biết mà không khởi tướng “Mình đang thấy” và “Cảnh bị thấy”. Khéo bặt năng sở, dấu vết như vậy thì sẽ hằng sáng soi mà không động.
Câu hỏi 2: Tu hành: Phải nhận thẳng trí tánh vô tướng. Nhưng nếu chưa nhận ra thì thông thường hành giả muốn phải có một cái gì như thế nào đó để dụng công; không thể là “Không có gì” mà tu được. Phải làm sao?
Gợi ý:
Ngay chỗ “Muốn như thế nào đó” tức thành ra có pháp, sẽ khiến ngăn ngại. Dụng công tu hành như thế sẽ rất vất vả, nhưng không hiệu quả, không thành công.
Khéo ngay đây buông tâm tìm cầu ấy xuống, sạch trọi trơn, không còn gì nhưng không mê thì Trí tánh Bát-nhã hiện tiền.
Tóm lại: Dứt tâm tìm cầu bên ngoài. Không luôn chỗ “Muốn phải có một cái gì như thế nào đó” thì tất cả hiện thành.
Câu hỏi 3: Bát Nhã dạy: “Tất cả đều không”. Không người nói pháp, không người nghe pháp. Nếu vậy thì ai nói pháp, ai đang nghe?
Gợi ý:
Nếu nhằm trên Sắc – Không để thấy biết, liền rơi vào tướng. Cụ thể, lúc này sẽ thấy tướng người nói pháp, tướng đại chúng nghe pháp, cho nên vướng kẹt, không thông suốt, không đáp được.
Nếu không dừng trụ trên “Có” và “Không”, trả lại tánh mình thì Sắc – Không đều trong lặng, nói nghe rõ ràng, vẫn vô tướng, không động. Lúc này, tự tại nói, tự tại nghe. Thấy có người nói, có thính chúng và mình đang nghe rõ ràng, nhưng không động, tất cả rành rành nhưng tự vượt thoát, thênh thênh, không ngoài nhau cũng chẳng phải trong nhau, không dính dáng hay ngăn ngại gì nhau mà tự lưu thông. Tất cả chỉ là như thị, tự tại, linh thông và vượt thoát. Cứ thế, mặc tình nói và nghe biết khắp, không ngăn ngại.
Câu hỏi 4: Từ lý “Sắc – Không”, phát triển thành triết lý “Tánh không”. Nhưng thực tế, hiểu và nói “Tánh không”, trong khi con người đang cần phải ăn mặc... là pháp “Có”. Vậy thì “Tánh không” sẽ dùng vào đâu trong các cái “Có” kia?
Gợi ý:
Đi sâu vào triết lý Tánh không, sẽ đi vào Trung Quán Luận. Giá trị này chú trọng khai thác triệt để Tánh không để trừ các tình chấp. Muốn dùng được chân lý này, phải tiến lên tinh thần của Tuyệt Quán Luận để nhận ra chỗ rốt ráo tự tánh, mới ứng dụng viên dung không vướng kẹt hay ngăn ngại.
Khi chấp “Có” thì bị các việc sinh hoạt, ăn ở... sai sử, tức nó sử dụng mình. Rõ biết tất cả là “Giả” (Không) sẽ bớt chi phối để tỉnh sáng. Vượt thoát “Có” và “Không”, nhận lại Tánh thể Bát-nhã sẽ không còn bị chi phối. Từ đó mới sai khiến và sử dụng được các đồ dùng nhưng vẫn vô nhiễm.
Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy: “Nếu hay chuyển vật, tức đồng Như Lai”[3]. “Chuyển vật” tức sống bằng chân tâm, tâm ấy cho chúng ta tự tại, không còn bị các cảnh duyên trói buộc, sai sử. Ở đây, mục đích Bát Nhã dạy chúng ta nhằm sống được như vậy, chứ không phải dừng lại để bị kẹt trong “Có” và “Không”. Cụ thể là học thông triết lý Tánh không để không bị ngăn ngại trong “Có” và “Không”, đồng thời hay dùng được tất cả mà không bị nhiễm trước, trói buộc.
Câu hỏi 5: Có vị nói: Nhờ triết lý “Tánh không” mà ngày một thâm nhập và tiến bộ sâu hơn trong công phu tu tập. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?
Gợi ý:
Nhờ triết lý Tánh không là còn nhằm trên Sắc – Không để thấy biết, công phu. Do đó, dù có tiến sâu thì cũng chỉ ở mức độ tỏ rõ Sắc – Không, huyễn hóa, thanh tịnh tâm, sáng dần; tức chỉ mới nhận Tánh không chứ chưa phải nhận thẳng Tánh thể Bát-nhã.
Vì chưa rời Sắc – Không và chỉ ngộ sâu Tánh không, nên rõ ràng là chưa ngộ tánh. Đây là hành giả còn đang trên đường thực hành lý Sắc – Không của Bát Nhã.
Vị này nói, nếu kết hợp triết lý Tánh không và Tâm Bồ-đề thì bản thân nhận thấy tu hành rất tiến bộ. Cho thấy hành giả này có công phu, nhưng do chưa ngộ nên thấy có tâm Bồ-đề (Chân Tâm) khác với Tánh không (Tánh không các pháp, sự lặng trong) để cùng kết hợp lại với nhau, hạ thủ đồng thời, thấy có sự tiến bộ. Công phu này rất đáng trân trọng, nhưng chúng ta cần biết đúng sự thật nó đạt đến đâu để xác định việc tiến đạo của tự thân.
Câu hỏi 6: Thầy Trụ trì có quyết định thực hiện một công việc, nhưng bản thân huynh A thấy không hợp lý và tự ý làm theo cách khác hay hơn mà không thưa lại. Có huynh đệ can ngăn, nhưng huynh A bảo vệ quan điểm riêng của mình và bảo sẽ chịu trách nhiệm trước Thầy Trụ trì. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy ra điều gì?
Gợi ý:
Trí tuệ Bát-nhã sẵn tròn sáng, nhưng do chúng sanh bỏ quên, thấy biết rơi vào ngã và ngã sở nên phan duyên, dính chấp, làm che lấp, chướng ngại, do đó có ra lắm chuyện. Từ đó dẫn đến mê lầm, sanh tử, và khổ đau. Tu tập là dùng trí tuệ chiếu kiến, phá ngã chấp để trở lại Trí tuệ Bát-nhã tròn sáng sẵn đủ ấy.
Sự thật, Bát Nhã nói tất cả đều không để dẹp sạch tất cả tình chấp, không còn chỗ bám víu. Ngay đó trả lại Tánh thể Bát-nhã chính mình, sẽ được tự tại, không bị sanh tử chi phối.
Trong tình huống này, Huynh A đang bị dính chấp vào “ngã” và “ngã sở”, cụ thể:
- Ngã: Chấp thân và tâm sanh diệt (quan điểm) làm mình, thầm thấy bên trong có một cái được gọi là “Ta”.
- Ngã sở: Những thứ thuộc về “Của ta”. Cụ thể: Công việc huynh A đang đứng ra lấy hết uy tín và bản lĩnh để thực hiện.
Trong khi đó Huynh A đang ở địa vị học nhơn, chưa phải làm bậc Thầy có trách nhiệm. Cho nênsuy nghĩ và hành xử như trong câu chuyện trên là chưa đúng đạo lý Bát Nhã. Mà lý do chính yếu là Huynh A đã suy nghĩ và hành động thông qua ngã và ngã sở, bị dính kẹt, khiến che lấp Trí tuệ Bát-nhã sáng tròn.
Thấy có một quan điểm thật và cố bảo vệ nó bằng mọi giá, đồng nghĩa “Cố chấp tâm”. Khi thấy quan điểm cần bảo vệ tức đã thấy có mình thật, tức “Chấp ngã”. Đứng ra lấy hết uy tín và bản lĩnh để thực hiện chính là đang thực hiện theo bản ngã và sở chấp, sẽ không tỉnh táo để có trí tuệ thấy đúng đạo lý Bát Nhã.
Tất cả đã đánh mất tâm niệm, đạo hạnh và trí tuệ của một người tu hành. Có nhất thiết phải vì những thứ huyễn hóa tạm bợ, để đánh đổi một giá trị vô thượng Phật Tổ đã chỉ dạy mà chúng ta từng phát nguyện tu hành hay không? Hãy tự trả lời một cách đầy tỉnh sáng và trí tuệ, không vì bất cứ gì khác.
Một hợp đồng làm việc ở thế gian, người ta cũng biết quy định một cách khoa học khi hai bên đã đi đến thống nhất các điều khoản trong hợp đồng. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh khác thì hai bên cùng bàn bạc, đi đến thống nhất ý kiến chung. Đây là tính văn minh, khoa học, lịch sự mang lại hiệu quả không chỉ công việc mà còn là cuộc sống nhân loại.
Chúng ta là người tu Phật, nếu hành xử khác như thế thì quê mùa, lạc hậu, sai trái hơn cả thế tục. Mai sau ra tiếp xúc công việc cũng sẽ bị người đời chê cười bởi thói quen, tập khí đã huân và sống như vậy. Huống nữa mình là học trò, là đệ tử, đang ở địa vị học nhơn.
Ở vị trí này, sẽ chưa đủ trí tuệ để thấy biết một cách đầy đủ. Đồng thời lúc này, đây là chỗ mình đang tu học, không phải nhân duyên lãnh đạo của mình. Cho nên hành xử như trên là bị trái ngược, sai nguyên lý, ắt đưa đến thất bại.
Bản thân chính mình bị tổn đức, khiến trở ngại đường tu. Đời sống tu hành của đại chúng bị ảnh hưởng bởi việc tổn đức của một cá nhân, có thể lây lan tạo thành cái nhìn sai cho nhiều vị khác.
Đời Thầy bị ảnh hưởng đến sự phát triển Phật pháp. Đời đệ tử bị quả báo thiếu phước, kém đức, cái thấy không tới nơi, trí tuệ không dung thông, không đạt đến rốt ráo viên mãn nên cũng không làm được gì cho đạo.
Kết quả, làm phương hại đến Chánh pháp chỉ vì một chút chấp thủ nhỏ nhoi.
Không bàn bạc mà cố tình làm theo ý của mình là chỉ nhìn trên công việc mà quên đạo lý. Công việc dù có tốt và thành tựu đến đâu, nhưng mất tình người thì mất tất cả. Như vậy, đã đặt sai vị trí, đã ưu tiên công việc trên con người thì sẽ thất bại trong cuộc sống.
Kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.”[4] (Hễ cái gì có tướng, đều là hư huyễn, không thật.) Sự thật, còn trong sanh tử thì không có gì có giá trị. Sở dĩ thấy quan trọng và cố chấp là bởi mê lầm, thiếu trí tuệ thấy ra.
Cần học hiểu, tĩnh lặng xét soi để tự thân thấy ra, mới sửa đổi được (tự thấy, tự giác biết, tự giác sửa đổi). Nên sống, tu, hành xử đúng đạo lý giác ngộ giải thoát để thành toàn bản nguyện cho tự thân. Nếu sống, suy nghĩ, nói năng, hành xử, làm việc sai khác, sẽ vô lực, không có ý nghĩa gì.
Câu hỏi 7: Có người cho rằng, nhà Thiền toàn dạy chân tâm, Phật tánh, Bồ-đề, Niết-bàn, không có gì mới. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy ra gì?
Gợi ý:
- Trong tự tánh vốn đã sẵn đủ, trí Vô Sư tự có khả năng sáng biết tất cả, việc học là khai sáng trí này và phải có khả năng giải thoát mọi khổ đau. Trên cơ sở đó, chúng ta có tầm nhìn để xác định việc học đạo.
- Học đạo không phải gom điều mới mà học điều then chốt (như là chìa khóa) để tu (tức mở khóa). Khi tâm đã khai sáng, suốt thông (như ổ khóa được mở tung) thì tự suốt tột tất cả. Các khổ cũng nhờ diệu lực này mà được vượt thoát. Đây đích thị là học đạo, khác đi thì không phải.
- Do đó, hành giả tu Phật không phải gom kiến thức vào để được hiểu như học giả ở thế gian, bởi như thế sẽ không thể hiểu được chỗ tột cùng của đại đạo, vẫn còn bị khổ đau chi phối, chưa được tự tại giải thoát.
Ở đây chúng ta có thể thấy qua hai phạm trù:
- Về đạo lý: Thấy tất cả các pháp Không là cửa vào Thiền.
- Về thực tiễn: Không phải đề cập Thiền nước ngoài hay đạo lý gì trong câu chuyện trên mà là vận dụng thực tiễn. Cụ thể “Ngay khi chúng ta đang nghe đây” có cảm thấy hấp dẫn bởi đây là câu chuyện nước ngoài mới mẻ hơn hay không? Nếu hấp dẫn sẽ nhận ra nguyên nhân do phù hợp với tâm so sánh, đúng sai, phải quấy, hơn thua... đồng nghĩa “mất đạo”. Nếu chân thật tu hành, sẽ thấy khắp nơi chỉ một tâm này, không khác. Cốt yếu chỉ thẳng, nhận thẳng Thực tướng Bát-nhã là đủ, không cần dông dài với bất cứ gì bên ngoài.
- Cuối cùng: Hiện nay đây, dùng tâm nào để nghe và đọc học?
[1] Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự (Nguồn thiền), Thiền sư Khuê Phong Tông Mật.
[2] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 35, Hành trạng Thiền sư 6, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 269.
[3] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 5: Kinh bộ giảng giải 5, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2017, tr. 119.
[4] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 100.
